Bài 11. SINH LÝ BỘ MÁY TIÊU HOÁ (ÔN THI SAU ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI 2025)

DR HUANG www.youtube.com

Tóm Tắt Ngắn Gọn

Video trình bày về sinh lý tiêu hóa, chú trọng vào ống tiêu hóa từ miệng đến hậu môn, các cơ quan hỗ trợ như gan, mật và tụy. Nó yêu cầu người học nắm vững ba mức độ: nhớ, hiểu, và áp dụng để giải quyết các vấn đề thực tiễn. Nội dung bao gồm cấu trúc, chức năng cụ thể của từng phần trong hệ thống tiêu hóa, và quy tắc cần tuân thủ trong môi trường học tập online.

  • Đường tiêu hóa từ miệng đến hậu môn
  • Tham gia của các cơ quan phụ trợ (gan, mật, tụy)
  • Yêu cầu học tập ba mức độ: nhớ, hiểu, vận dụng

Sinh lý tiêu hóa

Video bắt đầu với việc giới thiệu sinh lý tiêu hóa, đề cập đến ống tiêu hóa từ miệng đến hậu môn và các cơ quan hỗ trợ như gan, mật, tụy. Các thông tin cần ôn tập được phân loại thành ba mức: nhớ, hiểu và vận dụng kiến thức vào thực tiễn.

Qui tắc học online

Đề cập đến quy tắc học tập online với bảy điểm chính như bắt đầu và kết thúc đúng giờ, tắt các thiết bị không cần thiết và trang phục phù hợp. Chương trình học yêu cầu sự tương tác và tham gia từ người học bằng cách sử dụng các công cụ như giơ tay hoặc gửi tin nhắn khi cần trao đổi.

Cấu trúc và Chức năng ống tiêu hóa

Nội dung chi tiết về ống tiêu hóa bao gồm các phần như miệng, thực quản, dạ dày, ruột non, và ruột già. Mỗi phần trình bày năm nhóm chức năng chính: hoạt động cơ học, bài tiết, tiêu hóa, hấp thu, và chức năng nội tiết. Đề cập đến cấu trúc của ống tiêu hóa với ba lớp: niêm mạc, cơ, và thanh mạc.

Tiêu hóa ở miệng và thực quản

Trình bày hoạt động cơ học như nhai và nuốt, bài tiết nước bọt. Nước bọt chứa enzyme amylase giúp tiêu hóa tinh bột. Quá trình nuốt được chia thành ba giai đoạn: miệng, họng, thực quản.

Chức năng của dạ dày

Nội dung về hoạt động cơ học của dạ dày, bao gồm chức năng giãn tiếp nhận thức ăn, co bóp nhào trộn và co bóp làm rỗng. Dạ dày bài tiết axit hydrochloric, enzyme tiêu hóa và chất nhầy để hỗ trợ tiêu hóa thức ăn.

Chức năng của ruột non

Ruột non có ba loại hoạt động co bóp: co bóp nhu động, co bóp phân đoạn, và phức hợp vận động. Bài tiết enzyme tiêu hóa từ dịch tụy và dịch ruột, hoạt động của mật để nhũ tương hóa lipid và các enzyme hoạt hóa vi khuẩn giúp tiếp tục quá trình tiêu hóa.

Chức năng của ruột già

Đề cập đến chức năng hấp thu nước và một số sản phẩm tiêu hóa còn lại. Ruột già không bài tiết enzyme tiêu hóa nhưng hỗ trợ hấp thu vitamin K, B và một số ion như natri.

Chức năng của gan

Gan có năm chức năng chính: dự trữ, tổng hợp, bài tiết mật, chuyển hóa và bảo vệ cơ thể. Gan tổng hợp protein và vitamin, đồng thời dự trữ cacbohydrat và lipid. Chức năng bảo vệ thông qua việc chuyển hóa các chất gây hại và đào thải ra ngoài cơ thể.

Summarize any YouTube video in seconds

Get summaries like this one for any video, in your language, with the free Summ app.

Download on the Apple Store
Get it on Google Play

Transcript

YouTube Transcript Generator

0:00 Nội dung số một thì chúng tôi xin phép đề cập đến sinh lý tiêu hóa. Thế thì với cái nội dung này thì các anh chị lưu ý mấy phần sau đây tức là trước hết mình đề cập đến tiêu hóa, tức là sẽ đề cập đến ống tiêu hóa tính từ miệng cho đến hậu môn. Và thứ hai là các cơ quan tiêu hóa hỗ trợ tức là bao gồm có gan, mật, tụy và cái phần ruột thừa. Riêng cái phần này thì không đề cập đến trong cái chương trình này. Như vậy khi đề cập đến các nội dung ôn tập đến sinh lý tiêu hóa, các anh chị sẽ ôn tập lần lượt từ miệng cho đến hậu môn. Và thứ hai là chức năng, điều hòa hoạt động chức năng và cái việc mà các cái thăm dò và xét nghiệm để đánh giá cái chức năng này. Cuối cùng là vận dụng cái chức năng này giải quyết các vấn đề được đặt ra trong thực tiễn nghề nghiệp. Th như vậy là nó

0:47 yêu cầu đến ba mức. Mức thứ nhất là nhớ, thứ hai là hiểu và thứ ba là vận dụng hay là áp dụng kiến thức đối với việc giải quyết vấn đề. quyết vấn đề ở đây bao gồm có cái phần chỉ định xét nghiệm xét nghiệm thăm dò thì chắc là có khi lại phải phổ biến lại cái độ quy của hướng dẫn dạy học online. Các anh chị cấp trưởng các lớp giúp hậu tôi phổ biến lại nội quy dạy học online và cái cái này nhẽ ra cái đơn vị cơ sở tổ chức đào tạo phải phổ biến từ đầu có bảy điểm. Điểm thứ nhất là bắt đầu đúng giờ và kết thúc đúng giờ. Thứ hai là trong cái quá trình sử dụng hay là học hay hướng dẫn học tập online để tránh ảnh hưởng đến người khác thì tắt tất cả các cái thiết bị các tiện ích khác mà nếu

1:34 anh đang sử dụng máy tính hoặc là điện thoại. Thứ ba là cái trong quá trình giảng dạy hướng dẫn trao đổi có phát biểu thì các anh chị để lại tin nhắn hoặc là giơ tay đấy nó có cả cái biểu tượng đấy để tôi dừng lại để trao đổi hoặc là trả lời. Cái thứ tư đấy là trang phục cho nó phù hợp. Tức là giống như cái việc lên lớp trực tiếp. Thế thì cái thứ năm tức là cái phần mà trong cái lúc trao đổi các anh chị cố gắng là cái phần của các cái trong công việc ấy thì các anh chị đừng không không không tắt cái mic nếu không có sử dụng hoặc là tắt các cái tiện ích khác để đừng không được tốn tài nguyên. Hôm có muốn kêu

2:20 cho đau rồi đấy. Đồng ý. Thế các anh chị nếu mà vẫn tiếp tục như này tôi lại phải dừng giảng lại quê thì anh bán bố cho dày cho uống. Bình thường mình ăn uống tống cung có gì đâu. Thật ra thì có nghĩa là chô tôi tôi lại không có cái quyền tắt cái mic của anh nào đang nói đâu. Chắc các anh chị nào đóng vai trò cái modulator của lớp chủ động tắt giúp mic cho anh ấy. Nhiều khi anh quên cứ để cái mic như vậy phải mắng cho người ta không có kinh nghiệm ấy. Cho em

3:06 xin một k. Vâng. Thế chúng tôi xin phép được bắt đầu tiếp ạ. Như vậy là với cái nội dung như trên chúng tôi xin phép là phạm vi tức là bao gồm những cái phần mà đã đề cập đến hai là mức độ thì là đề cập đến ba mức độ cả nhớ cả hiểu và cả áp dụng. Thì đối với cái phần nội dung từng nội dung cụ thể thứ trước hết là cái ống tiêu hóa là cái ống cơ mà tính từ miệng đến hậu môn ấy thì bao gồm có các phần các anh chị sẽ ôn tập lần lượt đấy là tiêu hóa ở miệng thực quản ở dạ dày, ở ruột non, ở ruột già và mỗi một phần này

3:53 thì đề cập đến năm nhóm vấn đề. Chức năng thứ nhất đấy là liên quan đến tiêu hóa. Thì là bao gồm một là các hoạt động cơ học hay là chức năng cơ học. Thứ hai là bài tiết, thứ ba là tiêu hóa, thứ tư là hấp thu và thứ năm là các chức chức năng nội tiết khác của ống tiêu hóa. Như vậy ở từng phần của ống tiêu hóa này sẽ lần lượt đề cập đến năm nhóm vấn đề trên. Có những chỗ thì có đầy đủ cả năm nhóm vấn đề nhưng mà có những cái phần của ông tiêu hóa thì nó chỉ có một hoặc là hai cái nhóm chức năng trên thôi. Thế thì cái phần thứ hai là liên quan trước khi đi vào cái phần cụ thể chi tiết thì có một số các cái đặc điểm về cấu trúc có liên quan đến chức năng của

4:39 ống tiêu hóa thì chúng tôi xin phép đề cập chung. Thì phần cấu trúc đầu tiên được đề cập đến đấy là cái phần cấu trúc. Đây là cái ống cơ tính từ miệng đến hậu môn. Về mặt cấu trúc thì gồm gồm có ba lớp các anh chị bao gồm có lớp niêm mạc trong đó có cả đề cập đến dưới niêm mạc thứ hai là lớp cơ và thứ ba là lớp thanh mạc. Thế thì trong thành phần của cái lớp cơ này thì các anh chị lưu ý có hai lớp cơ dọc bên ngoài và cơ vòng bên trong. Thì một số cái phần của ống tiêu hóa thì có thêm cái chức năng co bóp nhào trộn thì ví dụ ở dạ dày thì có thêm lớp cơa chéo. Thứ hai là về thần kinh và mạch máu chi phối. Thì ở đây các anh chị thấy là thần kinh và mạch máu chi phối và các mạch bạch huyết để hấp thu các cái sản phẩm không hấp thu được theo đường máu thì

5:25 nằm ở cái trong cái lớp cơ vòng này và dưới ở cái lớp dưới niêm mạc. Cái phần này là bạch huyết, động mạch, tĩnh mạch và đây là thần kinh chi phối. Đây là bạch huyết. Thế thì về cơ bản để giải quyết các vấn đề ở trên thì các anh chị cũng hình dung chức năng chung của cái ống tiêu hóa. Đây là các sản phẩm được đưa vào tức là miệng và sản phẩm ở đây là đầu da. Thế thì đầu da thì có hai phần. Một là đi qua cái phần hậu môn, trực tràng hậu môn ra ngoài và thứ hai là hấp thu được vào trong máu và được đào thải ra ngoài thông qua cái chức lọc ở thận và tái hấp thu bài tiết. Tái hấp thu vào bài tiết từng phần của ống thận để ra cái sản phẩm cuối cùng mà chúng tôi sẽ đề cập ở trong phần sau. Và mỗi một phần của ống tiêu hóa nó cũng giống như là các phân xưởng của một cái nhà

6:12 máy sản xuất ấy. Vế thì có những cái phân xưởng sẽ tham gia vào từng khâu một trong cái quá trình tiêu hóa. Như vậy là cái sản phẩm đến được cái sản phẩm cuối cùng thì mỗi một cái phân xưởng ấy sẽ làm nhiệm vụ là chuyển hóa, tiêu hóa và hấp thu từng phần hỗ trợ cho cái chức năng trên. Thì đấy là vai trò của mật, của gan, của tuyến tụy. Thế thì đối với các cái học nội dung học tập chủ yếu thì sẽ đề cập đến đấy là phần thứ nhất là miệng và thực quản, thứ hai là dạ dày, thứ ba là ruột non, thứ tư là ruột già và thứ năm chúng tôi sẽ xin phép đề cập đến chức năng của gan với các thành phần như ở trên. Đối với miệng và thực quản thì các anh chị tập trung vào hai nhóm nội dung chính. Một

6:58 đấy là các hoạt động cơ học ở miệng bao gồm có nhai, nuốt. Thế thì thứ hai là liên quan đến bài tiết và tiêu hóa ở miệng thì liên quan đến bài tiết nước bọt và tiêu hóa. Ở đây chỉ có tiêu hóa cái phần tinh bột chín. Đối với hấp thu thì ở đây thì cái không được đề cập đến vì không phải là chức năng chính. Về tiêu hóa ở dạ dày thì sẽ đề cập đến các hoạt động cơ học của dạ dày bao gồm có chức cái giãn tiếp nhận hay là chức năng giãn chứa đựng thức ăn. Thứ hai là có bóp nhòm trộn. Thứ ba là có bóp đẩy tống thức ăn ra khỏi qua môn vị để xuống tá tràng. Thì đấy chức năng ấy gọi là chức năng làm rỗng dạ dày. Và thứ tư đấy là hoạt động của cái cơ hắt môn vị. Về hoạt động bài tiết ở dạ dày thì sẽ đề

7:44 cập đến bài tiết các enzyme, các men tiêu hóa, bài tiết của axit clorric, bài tiết chất nhảy. Về cái phần hoạt tiêu hóa thì ở đây sẽ đề cập đến các phần tiêu hóa các thành phần chính của thức ăn. bao gồm tiêu hóa protein, tiêu hóa lipit, tiêu hóa glucit và hấp thu ở dạ dày. Đây cũng không phải là chức năng chính nhanh. Đối với ruột non thì cũng đề cập đến các thành phần như đề cập đến ở trên. Thế thì à ở từng nội dung thì trước hết chúng tôi nói về cái phần tiêu hóa miệng và thực quản. Thì ở đây các anh chị lưu ý có hai cái hoạt động chính là nhai và nuốt. Trong đó cái phần hoạt động nhai thì các anh chị mô tả về cái hoạt động nhai và thứ hai là điều hòa cái hoạt động này. Thì đây là cái phản xạ không điều kiện.

8:30 Khi mà kích thích vào niêm mạc miệng và răng thì cái hoạt động nhai nên xuất hiện và có thể nhai có ý thức tức là không cần phải kích thích gì mình có thể chủ động được. Như vậy có hai. Thứ hai là nuốt. Thì ở đây có ba giai đoạn của nuốt bao gồm có giai đoạn nuốt có ý thức là giai đoạn ở miệng, giai đoạn ở họng và giai đoạn ở thực quản. Và trong đó hai giai đoạn sau là không có ý thức. Về cái hoạt động thứ hai các anh chị lưu ý đây là các cái mô phẩng cho cái hoạt động nuốt đấy. Đấy là hoạt bài tiết. Thế thì đối với bài tiết ở phần miệng vàở thực quản thì chỉ có mỗi cái hoạt động bài tiết duy nhất là nước bọt với cái lượng cỡ khoảng 800 đến 1500 và pH thì là 6 đến 7,4. Và hoạt động bài

9:15 tiết của nước bọt và dạ dày nó liên quan của ở miệng và thực quản liên quan đến hoạt động của ba cái đôi tuyến nước bọt chính là dưới hàm đây dưới lưỡi và tuyến nước bọt mang tai. Trong đó vâng tôi xin lỗi là tế bào làm biểu mô làm giải giác ở trong niêm mạc của miệng. Thế thì cái phần mà chi phối thì đối với tuyến nước bọt mang tai đây là dây thần kinh số 9. Đối với dưới hàm và dưới lưỡi thì liên quan đến dây thần kinh số 7. Còn đối với các tế bào bài tiết tuyến nước bọt mà nằm ở giải giác trong niêm mạc miệng thì đấy là liên quan đến dây thần kinh 10. Về cơ chế bài tiết nước bọt và cái chức năng của nước bọt thì các anh chị đây là có những cái nhóm câu hỏi liên quan về cái lượng số lượng tiết mỗi một ngày thì các anh chị lưu ý là ở đây thì cái tế

10:00 bào nằm cấu trúc của mỗi một tuyến nước bọt là do có các cái nang tuyến và ống tuyến trong đó các cái phần bài tiết chính đấy là các tế bào biểu mô ở nang tuyến và các tế bào biểu mô nang tuyến thì ngoài tuyến ngoài bài tiết là các cái ion chủ yếu ở đây là natric bicbonat thứ hai là bài tiết nước ba là cái bài tiết nhật Đầy. Và thứ tư đấy là có thể bài tiết cái enzyme và cụ thể đấy là alpha amilas trong nước bọt. Thế thì còn đối với ống tuyến thì thực hiện các tế bào biểu mô ống tuyến làm nhiệm vụ một là cái phần tái hấp thu natrium clo và thứ hai là bài tiết thì các tế bào biểu mô của ống tuyến thì bài tiết nước, bài tiết kali và bài tiết bicarbonat. Thế thì như vậy với căn cứ về cái cơ chế

10:46 như trên thì là sẽ là các cái thành phần của nước bọt ta có việc ta ra luôn. Nhưng mình vào mình cám bệnh sẽ lâu nhá. Bao nhiêu? Vâng. Thế giờ phòng thanh toán anh chị lớp trưởng nh phải lưu ý thành viên trong lớp liên quan đến cái phần phổ biến cái quy định các anh chị vẫn nghe rõ đúng không ạ? Rồi gọi ai đâu cái gì ạ? Còn gọi ai gọi ờ ông Tuhan nghe được thầy ạ. Vâng. Trần Văn Toanh chị chị chị nào tắt hộ cái mic bởi vì các anh học cái kiểu như thế này rất mất thời gian nó mang cái tính chất đối phó cho nên chúng tôi rất không muốn thực hiện cái ôn tập như thế này. Đây là năm nay chắc là tôi kiên quyết thực hiện là không hướng dẫn ôn tập nữa vì nó không

11:31 có giá trị gì lắm. Mất thời gian của các anh các anh chị làm phiền các anh các chị. Thế thì với ba thành phần chính. Thứ một là các anh chị lưu ý là amilas nước bọt, thứ hai là cái chất nhầy, thứ ba là các cái phần chất khoáng và ngoài ra còn có các cái ngưng quyết nguyên hồng cầu, một số thành phần khác. Thì đối với cái phần của trên cái cơ sở như trên ấ thì cái chức năng tiêu hóa chính ở cái phần của miệng thì đấy là tiêu hóa tinh bột chín. Và tổng lượng tiêu hóa cái tinh bột chín ở miệng trong trường hợp nhai kỹ khoảng 20% lượng tinh bột chín. Và dưới tác dụng amila nước bọt thì phân cắt cái liên kết 14 beta cái glycogidic ấy thì sẽ mới chỉ tạo ra đến cái đường và manto. Lưu ý sản phẩm tiêu hóa ở miệng

12:19 thì chỉ có tiêu hóa cái carbohydrat cụ thể là cái tinh bột chín và sản phẩm tiêu hóa là manto và mantotrios. Thế thì đối với cái điều hòa chức năng ở miệng và thực quản thì ở đây liên quan đến cái điều hòa bài tiết của nước bọt thì nước bọt thì được bài tiết liên tục cả ngày cả lúc khi ngủ và do cái hoạt động nền của các cái hoạt động phó giao cảm chi phối cụ thể là các cái xung động thần kinh mà trên dây thần kinh 9 dây thần kinh 7 khi ngủ nó vẫn có cho nên là sẽ kích thích giải phóng cái axetin cololin và kích thích các tế bào biểu mô của năng tuyến vẫn tiếp tục bài tiết. Thứ hai là bài tiết nước bọt được điều cái do thực hiện do thông qua các phản xạ không điều kiện như chúng tôi vừa đề

13:05 cập đến ở trên. Tức là khi mà nghe, khi mà nghĩ, khi mà nói đến hoặc là cái có điều kiện khi mà có các cái kích thích ở cái phần miệng thì đều kích thích thông qua dây thần kinh 10 và đối với các tế bào biểu là hướng tâm tức là đưa về và kích thích cái tuyến nước bọt mang thai dưới hàm, dưới lưỡi và các tế bào biểu tế bào bài tiết nước bọt ở nghiêm mạc, miệng họng bài tiết. Thì đấy là liên quan đến cái và không có cho đến nay là không có bất kỳ cái yếu tố dịch thể nào tức là bao gồm các hócmôn có liên quan đến cái bài tiết nước bọt được đề cập đến. Thì ngoài cái này ra thì có một số các kích thích ở ngoài miệng ví dụ ở thực

13:53 quảng trong trường hợp ví dụ viêm rét thực quản trong các trường hợp ung thư già dày trong trường hợp hẹp môn vị thì đều có thể làm kích thích làm tăng tiến nước bọt tức là các kích thích ở ngoài miệng họng thì đối với nước kích thích nữa đấy là liên quan đến các kích thích ở tử cung ví dụ như là phụ nữ nhưng giai đoạn mang thai. giãn tử cung cũng là một cái trong các kích thích ở bên ngoài đường tiêu hóa mà cũng làm tăng bài tiết bọt. Về kết quả tiêu hóa ở miệng thì ở đây thức ăn tiêu hóa thông qua các hoạt động cơ học ở miệng thì là một là được phân cắt nghiền và trộn lẫn với nước bọt. Thế thì giúp cho cái việc trộn lẫn với cái thành phần chất nhầy trong cái tuyến nước bọt được bài tiết làm cho thức ăn được dễ nuốt, dễ nuốt và nuốt thành các

14:39 cái pous tức là các khối thức ăn. Còn kết quả tiêu hóa thì là chỉ tiêu hóa tinh bột ch khoảng bà mang đi bà đi về à và khoảng 20% chá mổ khám của bà gọi lâu lắm rồi có cái men gan men gan cao lại vâng dùng thuốc nó chạy lại xuống và cái mỡ máu [âm nhạc] gan của bà là 65 84 chắc có anh chị nào có tắt được cái mụ cho thế nhưng mà là 72 tôi không tôi không không khóa được anh ấy nói chắc là phải là cái chị anh chị nào gửi link cho tôi với khóa học thì tắt được

15:24 à một lọ thôi và thứ sáu thế thì cái hôm nó cũng hai nọ một tháng thì xuống t xuống cái mic hiện nay đang để là cái chỗ bổ ganên này bây giờ cái quy định thứ sáu vào trong lớp học là đề nghị các anh chị lớp trưởng thông báo lại cho cái thành viên của lớp học là đăng ký tham dự cái lớp học on bằng tên tên của cá nhân ý phải có đầy đủ tên và lớp thì mình mới nhắc được ở đây có cái ví dụ như me thì tôi chịu không biết anh chị nào mà nhắc

16:11 Vâng, chốc nữa thì có anh chị nói tôi sẽ nói cái phòng sau đại học nếu mà tổ chức cái lớp học kiểu như thế này thì tôi sẽ dừng học dừng hướng dẫn vì không đảm bảo tất cả các yêu cầu tối thiểu của cái lớp học online. bảo làm cho xong việc thì không nên mất thời gian của các anh chị và mất cả thời gian của chúng tôi. Vâng. Thế thì đấy là cái phần ở miệng đối với chức năng của thực quản thì ở đây các anh chị sẽ xem là chỉ là cái ống mà dẫn thức ăn từ miệng xuống dạ dày. Thì một là cơ chế cơ chế vận chuyển của cái khối thức ăn đi xuống thực quản là theo hoạt động nhu động. Và ở đây tức là hay còn gọi là co bóp nhu động.

16:58 Thế thì co bóp nhu động thì trong chúng tôi sẽ đề cập đến ở cái phần phía sau. Thứ hai là cái tốc độ vận chuyển của khối thức ăn đi từ miệng xuống thực quản thì phụ thuộc vào cái tư thế của cơ thể. Ví dụ như là ở tư thế ngồi hoặc đứng thời gian di chuyển của cái khối thức ăn thì mất khoảng độ 8 5 cho đến 8 giây nhưng mà ở tư thế nằm thì xuống 10 giây. Vấn đề thứ ba là khi mà thức ăn xuống khối xuống cái phần dưới thực quản thì sẽ là cái phần kích thích cái cờ thắt tâm vị này nó mở ra và dạ dày thì giãn để tiếp nhận cái khối thức ăn này đi vào dạ dày và sẽ đề cập đến chức năng cơ học của dạ dày. Ở phần thứ hai của cái phần của chuyên đề về cái tiêu hóa khi mà ôn tập thì

17:43 chúng tôi xin phép đề cập đến phần của dạ dày. Thì ở đây các anh chị lưu ý mấy cái nội dung mà ôn tập của câu hỏi sau đây. Một là đối với hoạt động cơ học của dạ dày. Thì ở hoạt động cơ học của dạ dày trước khi đề cập đến thì về mặt giải phẫu thì người ta sẽ đề cập đến phần cấu trúc ở trên này gọi là đáy vị. Tiếp theo là thân vị. Ở cái phần khu vực này thì gọi là hang vị. Và ngăn cách giữa dạ dày với tái tràng ở đây là môn vị. Nhưng về mặt chức năng thì dạ dày có căn cứ vào chức năng chia làm hai phần thôi. Phần số một thì là liên quan đến cái khản chứa đựng thức ăn. Thế thì chứa đựng thức ăn ở đây thì là gọi là dạ dày phần gần. Dạ dày phần gần tức là bao gồm cái phần đáy vị ở trên này và 1/3 trên của thân vị thì gọi là dạ dày phần gần. Còn tất cả cái

18:28 phần còn lại của dạ dày được gọi là dạ dày phần xa. Thì dạ dày phần xa chức năng chính tức là co bóp nhào trộn và co bóp làm rỗng dạ dày hay là làm thoát thức ăn qua môn vị xuống tá tràng. Thế thì đối với hoạt động cơ học thì cũng sẽ có các hoạt động sau đây. Một là cái phần chức năng giãn tiếp nhận hay còn gọi là chức năng giãn chứa đựng thức ăn của dạ dày. Tức là khi mà thức ăn vào dạ khi đến xuống phần 1/3 dưới của thực quản thì là cơ thất tâm vị ở đây là giảm trưng lực và giãn ra. phần dạ dày phần gần sẽ giãn và như vậy thức ăn đến đâu thì dạ dày giãn đến đấy. Và vì vì việc thức ăn nhồi vào trong dạ dày nhưng dạ dày lại tiếp tục giãn cho nên áp suất ở bên trong dạ dày không tăng và vì vì nó không tăng lên cho nên nó không có cản

19:14 trở cái việc đưa cái thức ăn xuống dạ dày trong cái bữa ăn. Vấn đề thứ hai là trong cái thời gian giãn tiếp nhận ấ thì cái khối thức ăn như các anh chị nhìn thấy ở phần trên thì đưa xuống dạ dày là cái dạng khối thức ăn này thì các enzyme amila của nước bọt nằm ở trong khối thức ăn thì nó sẽ nằm ở phía trong của khối thức ăn chưa tiếp cận với pH của dịch vị sẽ tiếp tục hoạt động v cái pH tối thuận của cái amila nước bọt là 6 đến 7,4 sẽ tiếp tục tiêu hóa cái tinh bột chín ở trong dạ dày này và lượng tinh bột chín tiếp tục được tiêu hóa ở đây khoảng 20% nữa cái lượng tinh bột chín trong thời gian khối thức ăn đi vào trong cái phần dạ dày phần gần. Phần tiếp theo đấy là chức năng thứ hai đấy là chức năng co bóp nhào trộn. Thế thì ở đây cái chức năng

20:00 co bóp nhào trộn thể hiện ở chỗ tức là các cái khi mà dạ dày thức ăn vào trong dạ dày thì làm giãn dạ dày này. Giãn như thế thì sẽ có kích thích. Một là kích thích cơ học. Kích thích cơ học do giãn dạ dày thì các receptor tiếp nhận căng giãn là thành dạ dày sẽ tiếp nhận cái kích thích này và kích thích ấy sẽ truyền về một ở gần tức là hoạt hóa các đám rối thần kinh cụ thể là đám rối ach nằm giữa lớp cơ vòng và lớp cơ dọc và thứ hai là cái cơ chế vòng dài tức là tín hiệu này sẽ đi theo dây thần kinh 10 về hành não. Sau đó kích thích cái trung tâm của dây 10 và đường truyền ra cũng theo cái phần vận động của dây thần kinh 10. Một là kích thích trực tiếp các cơ dạ dày, hai là thông qua cái đám rối thần kinh ruột làm tăng cường hoạt hóa co bóp của các cơ dạ dày và bắt đầu ở

20:48 khoảng ranh giới giữa 1/3 trên và 2/3 dưới của dạ dày, tức là bắt đầu của dạ dày phần xa. Thì cái làn sóng co bóp này sẽ là đẩy co bóp dọc theo cái a thân vị sẽ co bóp như thế sẽ có tác dụng là làm nhào trộn thức ăn. Tại sao nó nhào trộn được? là bởi vì khi co bóp như thế đẩy cái khối thức ăn, đẩy cái phần vị chấp về phía môn vị. Nhưng mà vì cái muôn vị ở đây chỉ là mới hé mở thì bình thường thì chỉ có cỡ khoảng 2 đến 3 ml thì từ cái phần dạ dày đi xuống tá tràng thôi. Thế thì môn vị chưa mở tức là đang đóng thì cái phần dì vị chấp này sẽ bị dội ngược trở lại. Vậy hai cái dòng một là cái dòng vị chấp đi từ trên xuống và

21:34 dòng thứ hai là dòng vị chấp bị phản hộ đi ngược lại thì sẽ giúp cho cái việc hòa trộn cái dịch vị với lại cái thức ăn. và giúp cho cái quá trình thúc đẩy cái phần tác dụng của các enzym tiêu hóa được hòa trộn vào trong cái khối thức ăn giúp cho cái quá trình tiêu hóa được thuận lợi hơn. Và cái co bóp như thế gọi là co bóm nhào trộn. Vấn đề thứ ba là cái co bóp đẩy cái làm rỗng dạ dày. Tức là khi mà lực co bóp đủ mạnh thì à xuống cái phần của môn vị thì áp lực cái co này cộng với cái việc giãn cái cơ thất của môn vị. Tức là điều hòa đóng mở cái cơ thất của môn vị. cơ thất môn bị giãn ra thì sẽ làm thoát cái khối thức ăn từ dạ dày xuống tá tràng. Và cái hoạt động cơ học như thế tức là mình gọi là cái co bóp làm rỗng dạ dày hay là co bóp đẩy

22:21 cái thức ăn đi qua môn vịnh. Như vậy cái co bóp ở dạ dày có ba loại. Một ờ hoạt động cơ học ở dạ dày có ba nhóm. Một là giãn, thứ hai là co bóp nhòo trộn và thứ ba là co bóp làm rỗng dạ dày và việc đóng mở của cơ thắt môn vị. Thế thì điều hòa cái hoạt động cái cơ học của dạ dày thì theo cơ chế thần kinh và cơ chế thể dịch. Thế thì cơ chế thần kinh ở đây như chúng tôi đề cập ở phần trước tức là cái kích thích tại chỗ bao gồm có căng giãn và thứ hai là cái thành phần của thức ăn sẽ hoạt hóa cái các cái receptor tiếp nhận ở thành dạ dày và theo dây thần kinh 10. về cái phần hành

23:07 não. Sau đó quay ngược trở lại theo phần vận động của dây 10 và kích thích cái hoạt động của đám rối thần kinh ruột hoặc là kích thích trực tiếp lên cơ ở dạ dày. Thứ hai là cái tác nhân kích thích này thông qua các phản xạ thần kinh tại chỗ và cụ thể là thông qua đám rối back nằm ở giữa lớp cơ vòng và cơ dọc của dạ dày và gây kích thích co bóp ở dạ dày. Và cái co bóp ấy lần lượt bắt đầu từ cái phần đầu của dạ dày phần xa cho đến cái phần môn vị. Cái điều hòa hoạt động có bóc thứ hai đấy là vai trò khi mà cái gastin do các tế bào G nằm ở các cái tuyến niêm mạc của hang vị. Khi khi dưới tác dụng của cái kích thích cơ học và các thành phần của thức ăn thì c kích

23:54 thích của dây 10 thì tế bào g này sẽ bài tiết gasin. Guyin này sẽ được giải phóng vào trong máu và tuần hoàn đi đến theo cái đến các cái cơ của dạ dày và cái cái cin có tác dụng là cái kích thích làm tăng co bóp và thứ hai là ức chế làm giảm giảm cái trương lực của cái cơ ở thắt ở môn vị và gây giãn môn vị và giúp cho cái việc thúc đẩy đưa thức ăn từ dạ dày xuống tá tràng. Cái thí thứ ba là cơ chế thể dịch còn thể hiện ở nếu trong cái thành phần thức ăn là axit béo này cái hoặc là dịch vị đi xuống tá tràng quá nhiều là axit này hoặc là cái thành phần là polypeptit của thức ăn thì giúp cho cái việc ngăn cản

24:43 đưa cái dịch vị hay là vị chấp từ dạ dày xuống hoặc là kích thích các tế bào niêm mạc của tái tràng bài tiết CCK hoặc là các cái Peptit ức chế gin thì các peptit này sau khi được giải phóng ra thì cũng được vận chuyển đến để kích thích ức chế giải phóng gastrin và do đó ức chế co bó đưa thức ăn từ dạ dày xuống ruột xuống tái trả. Như vậy là điều hòa hoạt động cơ học của dạ dày là theo hai cơ chế hai con đường. Con đường thứ nhất là thần kinh thông qua dây 10 và phản xạ tại chỗ. Hai là theo con đường thể dịch và được đề cập ở đến đây ở chỗ này. Một là gastin và hai là các cái CCK và GP được bài tiết từ các tế bào niêm mạc của tá tràng và phần đầu của

25:28 ống tiêu hóa, phần đầu của hỗng tràng. Đây là cái và vai trò ấy hoàn toàn là thông qua vai trò của kích thích bài tiết gasin và ức chế bài tiết gin và tế bào gasin do các tế bào g mà tôi vừa đề cập đến ở trên. Vấn đề thứ hai là chức năng bài tiết ở dạ dày. Thì chức năng bài tiết ở dạ dày phần trước chúng tôi có đề cập đến bao gồm có bài tiết axit cloic, bài tiết chất nhầy và đây ở đây thì đối với bài trước hết là bài và bài tiết bicarcbonat nữa như ở đây có hai chức năng chính là bài tiết nhầy và bài tiết axit cloric và bài tiết các cái enzyme tiêu hóa. Thì ở dạ dày vài tiết các cái thành phần trên

26:14 thông qua vai trò thứ nhất là các tế bào tiết axit hay còn gọi là tế bào viền. Tế bào này sẽ đóng vai trò là bài tiết axit cloric vào trong các cái kênh và sau đó đi vào trong cái lòng tuyến. Và từ lòng tuyến này thì đưa vào trong cái phần của dạ dày để tiêu hóa thức ăn. Thứ hai là các tế bào cổ tuyến. Tức là cái tế bào ở vị trí này sẽ làm nhiệm vụ bài tiết chất nhầy. Ở cái tế bào viền thì ngoài bài tiết axit còn thêm bài tiết thêm yếu tố nội giúp cho cái việc gắn kết với vitamin B12 để bảo toàn cái vitamin B2. Vitamin B12 không bị dáng hóa bởi cái tác dụng của axit dịch vị. Bài tiết thứ ba là bài tiết enzyme được thực hiện bởi các tế bào chính. Các tế bào này nằm ở cái phần phía đáy của các

26:59 cái ống tuyến, các tuyến niêm mạc dạ dày. Và tế bào này bài tiết pepsinogen và trong tài liệu hiện nay đang sử dụng của các anh chị để ôn tập thì có đề tiết bài tiết clipaz và collagenas tức là ba cái enzyme trong đó có pepsinogen là enzyme chính. Thế thì đối với cái hoạt động bài tiết của cái cái phần này thì chúng tôi xin các anh chị lưu ý bài tiết thứ nhất là bài tiết liên quan đến các enzym tiêu hóa và liên quan đến chức năng tiêu hóa ở dạ dày. Enzyme đầu tiên được đề cập đến là pepsinogen thì được bài tiết từ tế bào chính dưới dạng tiền thân là pepsinogen. Thì pepsinogen sau khi được bài tiết giải phóng vào trong lòng ống tuyến ấy thì cái pepsinogen sẽ tiếp xúc với cái pH của dịch vị. Bình

27:47 thường cái này khoảng 2,5 ch 1,5 đến 2,1. Thế thì cái axit pH axit ấy sẽ chuyển cái pepsinogen thành pepsin và cái pepsin này sau khi được tạo ra lại tiếp tục thúc đẩy chuyển cái pepsinogen mới được bài tiết sau đó thành pepsin tiếp. Và cái pepsin này sẽ hoạt có hoạt tính sinh học ở mạnh nhất với cái pH tối thuận ở cỡ 2 đến 3 và pepsin sau khi được hình thành đưa vào trong lòng dạ dày sẽ có tác dụng là cắt đứt cái liên kết peptit. các đứt liên kết peptit nào thì các liên kết peptit mà có cái nhóm amin thuộc về các axit amin có nhân thơm và cụ thể là tyroxin và phenilanin. Và với việc chỉ có tác dụng lên cái liên

28:33 kết peptit ở vị trí này thì kết quả tiêu hóa protein ở dạ dày thì mới chỉ đến được proteeptol và các cái phần polypeptit. Như vậy tức là chưa tiêu hóa đến cái sản phẩm cuối cùng có thể hấp thu được. Câu thứ ba, ý thứ ba là toàn bộ cái lượng protein có thể tiêu hóa tối đa ở dạ dày cũng chỉ đến khoảng 20% tổng lượng protein ăn vào trong mỗi một bữa ăn thì cái pepsin ở dạ dày cũng chỉ có tác dụng được tối đa đến 20% này thôi. Enzyme thứ hai tài liệu mới hơn hiện nay có đề cập đến lipa được bài tiết từ trong tiế bọt nhưng mà tạm thời các anh chị sử dụng cái tài liệu chính thống đang sử dụng cho ôn tập thì là do tế bào chính của các tuyến niêm mạc dạ dày bài

29:18 tiết. Và cái này lipa của dịch vị sau khi bài tiết thì hoạt động ở pH có hoạt tính mạnh nhất là 4 đến 6 và vị trí tác động là lên các liên kết cái este của các lipit ấy và cụ thể là các triglycerit và cắt đứt các liên kết este này thì sẽ mới tạo dành axit béo diglycer, monoglycerit và cái lipa ở dạ dày chỉ có tác động trên các lipit đã được những tương hóa, tức là các lipit mà tan được trong nước và cụ thể là các lipit ở trứng và ở sữa thì còn các lipit khác thì nó không có tác dụng. Cái bài tiết thứ ba của dạ dày đấy là liên quan đến cái bài cái enzym còn có

30:04 bài tiết collagen rồi để khóa lỏng thức ăn thì các anh chị đọc thêm trong tài liệu thì ba cái enzyme chính. Ngoài cái thành phần bài tiết enzyme ra thì dạ dày, còn bài tiết yếu tố thứ ba là chất nhầy. Thì cái vị trí và nơi bài tiết thì chúng tôi vừa mới đề cập đến. Và ý nghĩa của cái việc bài tiết đấy là bảo vệ niêm mạc của dạ dày. Bài tiết thứ tư là bài tiết liên quan yếu tố nội và tôi cũng vừa nói vừa rồi. Tức là các tế bào sinh axit hay tế bào viền sẽ bài tiết cái yếu tố nội và yếu tố này gắn với vitamin B12 được đưa vào dạ dày để giúp cho cái việc à bảo vệ cái vitamin B12 không bị biến tính dưới tác dụng pH của dịch vị. đến tái tràng thì các cái yếu tố của dạ dày sẽ gắn tháo gắn và

30:52 toàn bộ cái phức hợp vitamin B12 và yếu tố nội được vận chuyển xuống cái phần dưới phần cuối của ruột non tức là ở hồi tràng và được hấp thu ở đây. Bài tiết thứ năm đấy là bài tiết axit chloyric. Thì lúc trước chúng tôi có đề cập đến đây là tế bào sinh axit hay còn gọi là tế bào viền có khả năng bài tiết axit cloric và cái này có liên quan đến các cái cơ chế về loét dạ dày sinh ra gây ra dẫn đến loét dạ dày tá tràng và có nhiều câu hỏi áp dụng ở phần này các anh chị lưu ý thì đối với tế bào viền này để bài tiết axit cloric thì đầu tiên là các cái tế bào viền này sẽ là bài xuất ion bài tiết ion H+ vào trong cái lòng kênh đây là kênh còn đây là lòng tuyến. Lòng tuyến thì ống tuyến thì khác

31:39 với lại lòng kênh. Kênh này được tạo nên bởi cái diềm bàn trải của cái tế bào sinh axit này. Yon H+ được bài tiết vào trong này và ion clo trừ cũng được bài tiết vào. Sau đó H+ kết hợp với clo trừ đã tạo thành axit clorric ở trong cái lòng kênh thì đây là lòng kênh còn đây là tế bào viền. Còn đây là dịch ngoại bào có ba khoang. Thế đầu tiên là CO2 được vận chuyển từ dịch ngoại bào đi vào trong tế bào viền hoặc CO2 được sinh ra do hoạt động chuyển hóa tế bào viền. Thì trong cái tế bào này thì CO2 kết hợp với nước để tạo thành axit cloridic. Đây dưới tác dụng của enzym cacbonic anhra. Và axit này là axit yếu cho nên nhanh chóng phân ly thành H+ HCO3 tr- H+ sẽ được vận chuyển vào trong lòng kênh thông qua cái hình thức vận chuyển tích cực và cụ thể đấy là các protein bơm nằm

32:27 trên bờ và rềm bàn trải và lòng kênh sẽ bơm ion H+ vào trong lòng tuyến đồng thời đưa ông eali theo hướng ngược lại từ bên ngoài vào bên trong. Còn ion clo trừ sẽ khuếch tán từ bên dịch kẽ đi vào trong cái tế bào viền và từ tế bào viền bơm vào trong lòng kênh. Thế như vậy đấy là ở trong lòng kênh này thì H+ kết hợp với lại clo. Và như thế thì điều hòa khi mà lượng axit cloric được bài tiết quá nhiều thì có thể dẫn đến các cái tổn thương tức là mất cân bằng ở cái niêm mạc dạ dày và gây ra tổn thương của niêm mạc. Tức là tổn thương như là led loét. Thế thì cơ chế điều trị các cái phần ứng dụng tức câu hỏi nhóm câu hỏi liên quan đến áp dụng tức là sẽ

33:14 làm giảm muốn điều trị cái này thì một trong các cái nguyên nhân gây loét là tăng cái axit của dịch vị. Thì bây giờ giảm tiết axit dịch vị bằng cách một là giảm bớt kích thích lên tế bào viền. Thế thì tế bào viền này nhận kích thích trực tiếp từ gastrin từ kích thích dây thần kinh 10 giải phóng ain colin lên trực tiếp gắn receptor này và thứ ba là thông qua vai trò histamin thế thì bây giờ một là ức chế cái phong bế cái receptor của histamin tức là ức chế thụ thể H2 như là simetidin, janitin ấy, phamotidin thì sẽ làm giảm bớt kích thích lên tế bào viền và cũng giảm bớt bài tiết H+. Cái thứ hai thì là các anh chị ức chế cái proton này. Tức là các anh chị sử

34:00 dụng các cái thuốc đang điều trị hiện nay thì sẽ làm giảm bài tiết yon H+ và làm giảm nồng độ axit hydric xuống. Cái vấn đề thứ ba đấy là sử dụng các cái yếu tố làm tăng cường kiềm hóa cho cái niêm mạc dạ dày. Thì đấy là các nhóm câu hỏi về áp dụng. Đối với các câu hỏi liên quan đến vận dụng thì axit chloridic sẽ đặt ra câu hỏi được bài tiết thì cơ chế tôi vừa đề cập đến ở trên. Thế thì câu hỏi đặt ra là bài tiết axit choric để làm gì? Thì có sáu cái nhóm tác dụng chính. Tác dụng thứ nhất là lúc nãy đã đề cập đến pH tối thuận và để hoạt hóa chuyển pepsinogen thành pepsin. Thứ ba đấy là có tác dụng sát khuẩn. Thứ tư là cái pH axit giúp cho cái làm cho cái phá vỡ cái lớp vỏ

34:48 bọc của sợi cơ thịt, giúp cho các enzyme tức là cái enzyme tiêu hóa nó được thấm sâu khối thức ăn để giúp cho tiêu hóa được tốt hơn. Cái thứ năm đấy là cái đối với các cái sản phẩm cái thức ăn là thực vật thì celulo chẳng hạn thì cái pH axit giúp cho cái việc thủy phân cellulo ở các thực vật non. Và cái thứ sáu tức là cái việc đóng và mở cơ thất môn vị nó liên quan đến pH của dịch vị. Như vậy là bài tiết cái axit chloric ở dạ dày với sáu cái vai trò trên. Về chức năng bài tiết của dạ dày thì điều hòa chức năng bài tiết cũng theo hai cơ chế. Đối với cơ chế thần kinh tức là cũng thông qua một là kích thích dây thần kinh 10 thì người ta cũng thấy là bài tiết dịch vị tăng lên. Bài tiết dịch vị tăng bao gồm có bài tiết axit cũng

35:34 tăng và bài tiết cái enzyme cũng tăng. Như vậy tất cả các tác nhân xin lỗi một chút. Thì vì về cái phần thứ hai liên quan đến cái cơ chế này tức tức là của thần kinh tức là thông qua cái thần kinh ruột và cụ thể là kích thích đám rối dưới niêm mạc ví dụ đám rối m ở đây là đám dối mas

36:21 thì cũng làm tăng cường bài tiết cái dịch vị và ngược lại. Th như vậy là đối với điều hòa trong trường hợp bài tiết quá nhiều thì đấy là các phẫu thuật trước đây tức là cắt bỏ dây thần kinh 10 hoặc là cắt bỏ dây thần kinh 10 chọn lọc thì cũng làm giảm các kích thích này và làm giảm bài thiết axit. Vì đối với điều hòa bằng cơ chế thể dịch, tức là các cái hócmôn tại chỗ sau đây có liên quan đến làm tăng bài tiết, cụ thể là histamin và gastrin. Còn đối với các cái chất khác thì là ức chế bài tiết gastrin thì sẽ làm giảm bài tiết cái axit. Một số các cái thuốc ví dụ hócmôn của tuyến vỏ thượng thận như là cocticoid và thuốc có bản chất cocticoid sẽ

37:07 tăng bài tiết axit cloric nhưng lại giảm bài tiết chất nhầy. Còn đối với các hómôn như adrenalin và no adrenalin của tuyến thủy thần thận thì lại sẽ là ức chế làm giảm bớt cái bài tiết. Thì cái sơ đồ này có minh họa đây là tế bào viền đóng vai trò là bài tiết yông H+. Thế thì tất cả các kích thích tế bào viền làm bài tiết yông H+ bao gồm có một là kích thích thần kinh đến từ dây thần kinh 10. Và nguyên nhân hoạt hóa dây thần kinh 10 thì có thể là do giãn. Đây là kích thích thức ăn đi vào trong dạ dày gây giãn dạ dày tức là kích thích cơ học. Và kích thích cơ học như thế thì đây kích thích dây thần kinh sẽ dẫn đến kích thích dây 10. Kích thích dây thần kinh 10 sẽ giải phóng acetin culin. Aytetin culin là có gắn với receptor trực tiếp trên tế bào viền làm tăng bài tiết. Cái thứ hai là kích thích

37:54 dây thần kinh 10. Còn kích thích các tế bào ECL là các tế bào niêm mạc nằm ở cái phần của biểu mô tuyến và tế bào này thì giải phóng a cái histamin và histamin sẽ gắn với thụ thể H2. Thụ thể histamin H2 nằm trên bề mặt của tế bào viền và cũng thích kích thích cái tế bào viền này làm bài tiết axit cloric. Thứ cái tác dụng thứ ba đấy là hómô thứ ba đấy là liên quan đến cơ chế thể dịch. Cụ thể tôi vừa đề cập đến ở trên là gasin. Gastin thì nó có hai cái thành phần chính được vận chuyển trong máu. Một là cái loại có 17 axit amin và loại thứ hai có 34 axit amin. Tế bào G nằm ở niêm mạc các tuyến niêm mạc của hang vị và tế bào G ở tế bào niêm mạc của tá tràng. Thì cái tế bào G

38:41 này có thể bài tiết gin đưa vào trong máu và được vận chuyển đến dạ dày thì sẽ kích thích trực tiếp tế bào viền làm tăng cường bài tiết H+. Thì tất cả những cái yếu tố mà ức chế trực tiếp lên trên cái tế bào viền làm giảm bài tiết thì có một là liên quan đến somatostatin. Thì somatostatin này là do tế bào D và tế bào này cũng có ở các cái sen kẽ nằm ở các tế bào biểu mô của ống tuyến và nó sau khi bài tiết ra thì tác dụng tại chỗ lên trên tế bào viền và cụ thể là ức chế tế bào viền làm giảm bài tiết H+. Thứ hai đấy là cái tế bào D ở hang vị như chúng tôi vừa mới

39:26 đề cập đến ấy thì cái tế bào D như lúc nãy đã đề cập đến somatosatin này. Somatosatin cũng ức chế tế bào G và tế bào G giảm bài tiết gas xin. Giảm bài tiết gas xin thì cũng ức chế tế bào viền làm giảm bài tiết y+. Như vậy thì somatostatin là ức chế làm bài tiết y+ và ức chế thông qua hai con đường, một là trực tiếp trên tế bào viền và hai là gián tiếp thông qua tế bào G tức là tế bào bài tiết cá suy. Thế thì cái tác nhân kích thích làm hoạt hóa, làm tăng cường bài tiết cái axit cloric còn do thành phần protein ở trong thức ăn. Nếu cho cái bữa ăn mà nhiều protein được đưa vào thì cái lượng axit amin được tạo ra ở trong dạ dày mà nhiều

40:13 thì cũng sẽ kích thích trực tiếp lên tế bào gờ và tế bào gờ này bài tiết gin và tế bào gin này cũng làm kích thích tế bào viền làm tăng bài tiết axit Thế còn bài tiết ở dạ dày thì các anh chị cũng lưu ý là cái lượng dịch vị được bài tiết trong dạ dày một ngày có cỡ khoảng độ 1000 đến 1500 ml. Và 1500 ml đấy được bài tiết thông qua ba giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là trước khi thức ăn vào trong dạ dày. Tức chúng ta còn gọi là giai đoạn đầu hay là giai đoạn thần kinh. Tức là thông qua các phản xạ phi. Ví dụ khi mà nuốt, khi mà nhai, khi thì nghe nghĩ mà nói đến thì

41:00 dịch vị cũng đã bài tiết rồi. Thế thì không điều kiện là nghe nghĩ nói đến. Còn phản xạ có điều kiện tức là kích thích liên quan đến các cái phần của miệng họng và và toàn bộ các phản xạ này đều thông qua dây thần kinh 10. Giai đoạn thứ hai tức là khi mà thức ăn vào đến dạ dày rồi mới kích thích dạ dày bài tiết dịch vị tức là bao gồm có các kích thích thông qua cái dây thần kinh 10 hoặc là phản xạ tại chỗ để kích thích cái đám rối thần kinh maer và đám rối này sẽ kích thích các tế bào niêm mạc ở dạ dày. Tuyến niêm mạc ở dạ dày để bài tiết. Giờ giai đoạn thứ tư tức là giai đoạn sau khi thức ăn thoát khỏi dạ dày tức là đi xuống tái tràng thì kích thích ở các niên mạc tá tràng bài tiết gastin và gastin lại kích thích tế bào quay ngược

41:47 trở lại kích thích dạ dày bài tiết như vậy là kích thích ở ruột mà gây bài tiết dịch ở dạ dày thì như vậy dịch vị lượng dịch vị được tạo ra trong một bữa ăn thì có cả ba giai đoạn giai đoạn trước khi vào dạ dày, giai đoạn khi thức ăn vào đến dạ dày và giai đoạn đoạn thức ăn thoát khỏi dạ dày xuống tá trả. Đối với tiêu hóa ở dạ dày chức năng nhóm chức năng số 4 ấy tiêu hóa thì ở dạ dày tiêu hóa những cái gì? Một là đối với protein lúc nãy chúng tôi vừa mới nói tác dụng của pepsin mà phân cắt ở cái liên kết peptit và lượng protein tiêu hóa được 20% và kết quả tiêu hóa ở đây mới đến cái proteeptit.

42:32 Thế thì đối với peptone proteeptit, đối với tiêu hóa lipit ở dạ dày thì tiêu hóa ở đây là do phân cắt cái liên kết este dưới tác dụng enzyme lipa của dạ dày và chỉ tiêu hóa đến thành phần axit béo diglycer và monoglycerit và glycerol và chỉ tiêu hóa các lipit đã được nhũ tương hóa, tức là lipit trong trứng và sữa. Đối với cacbohydrat thì dạ dày không bài tiết bất kỳ enzyme nào tiêu hóa carbohydrat mà lượng tinh bột tiếp tục được tiêu hóa ở dạ dày là dưới tác dụng của enzym alpha amas của nước bọt và lượng tiêu hóa thêm ở dạ dày này cỡ khoảng 20% tinh bột chín đưa vào dạ dày nằm ở trong khối thức ăn và alpha chưa

43:18 kịp ngấm cái dịch vị thì amila giờ ở đây tiếp tục tiêu hóa tinh bột trong khối thức ăn thêm 20% nữa. Và kết quả cũng vẫn chỉ mới đến đường Manto và Manto Trios.

45:09 Phần tiêu hóa dạ dày thì các anh chị trình bày các phần như đã đề cập đến để trên. Đối với phần của ruột non thì các anh chị lưu ý các hoạt động co bóp th chức năng thứ nhất là chức năng cơ học của ruột non thì đề cập đến một là co bóp nhu động, thứ hai là co bóp phân đoạn và thứ ba là phức hợp vận động di chuyển. Có ba cái loại hoạt động cơ học chính. Trong đó cái phần co bóp nhu động thì các anh chị lưu ý đây là cái phần liên quan đến co bóp nhu động nó diễn qua qua ba bước. Phần thứ nhất là viền phía trên thì là co lại cái phần ở giữa và ngang khối thức ăn thì các cái cơ trơn ở vị trí này sẽ bị ức chế. Như vậy là các cơ đầu tiên bước một là các cái cơ trơn ở đây là cơ vòng của cái phần này của cái

45:56 phần trên khối thức ăn sẽ được hoạt hóa và nó sẽ co. Trong khi đó thì các tín hiệu đến cái ức chế các cái cơ trơn ở ngang khối thức ăn và dưới khối thức ăn cho nên cái phần này nó giãn. Bước hai, sau khi hoạt hóa cái cơ vòng này tiếp theo là hoạt hóa cái cơ dọc. Và cái cơ dọc này co lại thì sẽ đẩy cái khối thức ăn đi từ phía miệng về phía hậu môn. Và tương tự như thế bằng cách như thế này thì sẽ đẩy cái khối thức ăn di chuyển dọc theo cái phần chiều dài của ống cơ từ ống tiêu hóa. Và co bóp như này gọi là co bóp nhu động. Co bóp thứ hai là loại co bóp nhào trộn. Thì các anh chị thấy là đầu tiên là trên cái trên cái khối thức ăn này nó co giữa và ngang khối thức ăn thì chỗ này giãn. Và cái tiếp theo thì là ở cái phần giữa

46:42 khối thức ăn bây giờ lại co lại và cái phần trên và phần dưới khối thức ăn này nó lại giãn ra. Và bằng cách như thế thì sẽ cắt cái khối thức ăn này thành các cái phần nhỏ hơn. Và co bóp như thế mình gọi là co bóp phân đoạn hay là co bóp nhào trộn. Cái việc co bóp nhào trộn sẽ giúp cho một là các cái thành phần trong cái khối thức ăn đã được chưa được tiếp xúc với enzym thì bây giờ sẽ phân cắt ra thành cái phần nhỏ hơn sẽ làm giúp cho các enzyme tiêu hóa và dịch tiêu hóa tiếp xúc và làm thúc đẩy làm tăng cường tiêu hóa. Thứ hai là những cái thành phần đã được tiêu hóa rồi nằm giữa khối thức ăn. Bây giờ muốn được hấp thu thì bây giờ tức là nhờ co bóp phân đoạn mà nó sẽ đẩy ra được sát tiếp xúc với thành của ống tiêu hóa và thúc đẩy cho cái quá trình hấp thu.

47:28 Đối với phức hợp vận động di chuyển thì một ngày có cỡ khoảng độ hai lần đợt sóng nhu động đi từ cái cỡ một phần 1/3 trên và 2/3 dưới của thân vị và lan dọc theo chiều dài từ dạ dày đi xuống hết ruột non giúp cho việc làm sạch tất cả các thành phần ở trong cái ống tiêu hóa bao gồm có cái thức ăn còn sót lại các dịch tiêu hóa, các tế bào bị bong người ta chết thì làm đẩy dọc theo cái ống tiêu hóa và giúp cho làm sạch cái ống tiêu hóa. Đấy là có bóp phức hợp vận động di chuyển. Thì ở đây là những cái sóng đi từ dạ dày đến tới khôi tràng và toàn bộ những cái phần sót lại như thế sẽ đưa xuống dạ dày. Như vậy đấy là đối với co bóp nhu động thì thường cái co bóp này là co bóp nền. Bình thường các anh chị đang ngồi học như thế này cái nhu động ruột vẫn có

48:14 và tốc độ cỡ khoảng 2 cm/1 giây di chuyển dọc theo cái chiều dài của ruột non. Thế thì đối với cái co bóp đấy là hoạt động cơ học và bị hoạt động tiêu hóa của ruột non thì nó liên quan đến bài tiết của các enzyme bao gồm bài tiết mật, bài tiết dịch vụ và bài tiết enzyme của dịch ruột tức là các tuyến niêm mạc ở ruột. Tiêu hóa liên quan đến tiêu hóa ở đây thì có bao gồm có ở dịch ở ruột bài tiết enzyme tiêu hóa protein, enzyme tiêu hóa lipit, enzym tiêu hóa glucit và bài tiết gicarcbonat, bài tiết kiềm và bài tiết nước. Và ở đây thì đối với các enzyme tiêu hóa từ dịch tụy thì các anh chị lưu ý do các tuyến tụy ngoại tiết, bài tiết và bao gồm có các ba cái nhóm enzyme chính sau

49:00 đây. Một là tripsin, hai là kikimotripsin, ba là carboxy polypeptida. Ngoài ra còn một số các cái elasta khác nữa là tiêu hóa sợi elastin của thịt. Thế thì đối với mỗi loại enzyme này thì các anh chị lưu ý có ba bốn chi tiết. Một là dạng được bài tiết là dạng gì? Thứ hai nữa hoạt hóa bằng cách nào? Thứ ba là tác dụng của nó là gì? Thế thì bây giờ đối với tripsin chẳng hạn thì đây là được bài tiết ở dưới dạng tripsinogen tức là chưa có hoạt tính. Và khi được bài tiết vào trong cái niêm mạc của tã tràng thì tiếp cận với enterokina của dịch ruột. Cái enzyme này nằm trong lòng của ruột non, tức ở cụ thể là tá tràng thì enterokina này mới chuyển tripsinogen thành tripsin. Và lúc này tripsin mới có tác

49:47 dụng là một là cắt đứt cái liên kết peptit mà chỉ có các pep liên kết mà có nhóm các boxy thuộc về lin và ainin tức là axit amin kiềm. Thứ hai là tuin được tạo ra sẽ đóng vai trò sẽ hoạt hóa các kimsinogen và kipsinogen được bài tiết trước sau đó thành tripsin và kimotripsin và procboxy polypeptida thành cái cboxy polypeptida. Như vậy là có hai tác dụng. Một là tác dụng để tiêu hóa và hai tác dụng để hoạt hóa các enzyme khác các cái tiền enzyme thành enzym. Đối với kimotripen thì các anh chị thấy là sau khi được tạo ra dưới hoạt hóa tác dụng của tripsin chuyển kimsinogen bài tiết ở dịch tụy thành kimotripsin ở

50:34 trong tá trảng thì trong dịch ruột thì nó sẽ phân cắt các cái liên kết peptit mà có nhóm cacboxi thuộc về axit amin có nhân thơm. Đối với các bộ polypeptida thì đầu dạng được bài tiết ra từ cái dịch tụy tức là pro các bxy polypeptida là chưa có hoạt tính sinh học. Dưới tác dụng của trip sinh nó chuyển thành cái carboxy polypeptida và tác dụng là liên kết cái lên các peptit mà có các axit amin tận cùng là có cái đầu tận các bxy và như vậy nó sẽ chuyển polypeptit thành axit amin. Thì với cái vai trò như thế là của tiêu hóa protein thì sản phẩm tiêu hóa của các ben tụy thì cũng chưa đến hoàn toàn thành axit amin mà cũng chỉ một phần

51:20 axit amin và còn lại vẫn là dipeptit, tripeptit và các pulpeptit khác. Thành phần thứ hai của dịch tụy đấy là các enzym tiêu hóa lipit. Thì có ba cái nhóm enzyme tiêu hóa lipit của dịch tụy là lipa, photospholipa và cholesterol estas. Thì cái này chúng tôi cũng đã nói ở trên. Thì bài tiết thì là đã thành cái lipa rồi ngay trong dịch tụy và nó tác dụng cũng chỉ là mới đến lipit nhũng thương hóa và kết quả thì vẫn thành cái monologlycerol và axit béo. Còn đối với phospholipa của dịch tụy thì tiêu hóa cái litin trong thức ăn thành lisolcitin. Còn cholesterol thì phân cắt các liên kết este ra của cholesterol thì tạo thành cái cholesterol este

52:07 và các cái thành phần axit béo và sterol. Nhóm thứ ba là các enzyme tiêu hóa cbohydrat và cụ thể ở đây là có ba có hai enzyme là alphaamila tương tự giống như của nước bọt và thứ tư à thứ hai là manta thì cái này sẽ tiêu hóa cái manto thành glucose là sản phẩm có thể hấp thu được. Ngoài cái thành phần này ra thì dịch tụy còn vài tiết bicbonat tham gia vào việc đến trung hòa pH axit ở tái tràng và có liên quan đến cái việc tạo ra cái pH tối thuận cho cái hoạt động của các enzyme của dịch tụy đóng mở của môn vị. Về điều hòa bài tiết của dịch tụy thì anh chị lưu ý là đối với cái điều hòa bài tiết ở

52:53 đây thì có liên quan cơ chế thần kinh và cơ chế thể dịch. Cơ chế thần kinh ở đây là liên quan đến kích thích dây thần kinh 10 làm tăng cường bài tiết cái dịch tụy trong đó có cả bài tiết enzyme và bài tiết bicbonat. Còn cơ chế thể dịch liên quan đến bài tiết dịch tụy thì liên quan đến hai hócmôn được bài tiết bởi các tế bào S, tế bào bài tiết suyretin và tế bào thứ hai là tế bào bài tiết CCK. Thế thì cái CCK được bài tiết ra từ các tế bào biểu mô niêm mạc của tái tràng và phần đầu ống tiêu hóa. Hai loại hócmôn trên được vận chuyển theo máu đến dịch tụy thì đối với cái CCK sẽ kích thích tế bào biểu mô của tuyến tụy tăng cường. Đây đây là CCK tức là tế bào được bài tiết.

53:39 Cái này sẽ được vận chuyển đến tuyến tụy và kích thích cái tuyến tụy ngoại tiết tăng cường bài tiết enzyme tiêu hóa và bài tiết bicarbonat. Thứ hai là liên quan đến secretin thì chủ yếu tác động đến tế bào biểu mu của ống tuyến thụy và tăng cường bài tiết chủ yếu là bicarcbonat và nước. Thế ngoài hai tác dụng trên CCK và cái secretin còn có tác dụng liên quan đến cái việc kích thích phát triển các tế bào biểu mô ống tuyến này. Cái phần thứ hai liên quan đến bài tiết dịch ở ruột non còn liên quan đến cái bài xuất của mật. Thế thì cái mật được bài xuất ở đây thì bao gồm mật ở trong đường mật, mật trong túi mật và mật trong gan. Thì vai trò của mật được bài tiết ở đây liên quan đến vai trò của muối mật và

54:25 sắc tố mật. Đối với sắc tố mật thì chủ yếu đây là nhuộm màu của phân. Còn đối với muối mật thì là vai trò là nhũ tương hóa lipit. Có nghĩa là các cái lipit mà không tan trong nước cắn với thành phần của muối mật thì là tạo thành các hạt men và tan được ở trong nước và thúc đẩy cho cái việc tăng cường bề mặt tiếp xúc giữa các cái thành phần lipit này với lại các enzyme tiêu hóa lipit trong dịch ruột. Thứ hai là vì tan được trong nước cho nên là vận chuyển được các thành phần lipit trong lòng ruột đến sát cái diềm bàn trải và giúp cho cái việc tăng cường hấp thu lipit. Và thứ hai là các thành phần vitamin tan trong lipit tức là A, D, E và K. Còn bài tiết cái dịch mật thì các anh chị cũng lưu ý nó cũng liên quan đến cơ chế thần kinh và cơ chế thể dịch. Đối với cơ chế thần kinh liên quan đến bài tiết ở đây tức là kích thích dây thần

55:11 kinh 10 thì làm tăng cường co bóc của túi mật và làm tăng cường bài xuất mật xuống ống tiêu hóa. Thứ hai là tăng cường bài tiết kích thích các tế bào biểu mê mạc của đường dẫn mật ở trong gan nữa làm tăng cường bài tiết cái bicbonat và nước. Còn đối với cơ chế thể dịch liên quan đến bài tiết của dịch mật thì cũng chỉ có hai hómôn có liên quan. Một là CCK tức là cocistokinin. Thì coesistokinin sẽ là tác dụng chính lấy là co bóp túi mật và thứ hai là giãn cơ thắt ốt đi giúp cho tăng cường bài suất mật từ cái túi mật đi xuống. Còn đối với secretin tức là do các tế bào S niêm mạc của tá tràng phần đầu dận non sẽ kích thích các biểu mô của đường dẫn mật ở trong gan mà làm

55:57 tăng cường bài tiết kiềm, bài tiết nước và vào trong cái dịch mật. Và như vậy mật xuống tá tràng thì thúc đẩy cho việc một là ngoài cái tác dụng như đã đề cập đến ở trên liên quan đến cái nữa là trung hòa của cái pH axit của vịnh chấp đưa từ dạ dày xuống tá tràng. Thành phần thứ ba bài tiết chức năng bài tiết của ruột ở đây được đề cập đến là bài tiết dịch ở ruột non còn do các tế bào các và các tuyến của niêm mạc ruột bài tiết. Thế thì dịch ruột được bài tiết gồm có các enzyme bicbonat và nước. Thì đối với các enzyme tiêu hóa ở dịch ruột thì gồm cũng ba nhóm là tiêu hóa

56:43 protein, tiêu hóa cacbohydrat và tiêu hóa lipit. Đối với tiêu hóa protein thì các anh chị nhớ có ba loại enzyme chính là aminopeptidas, iminopeptidas, tripepti và dipeptida. Thì đọc tên như thế này thì các anh chị có thể giải thích được về vị trí tác dụng và sản phẩm tiêu hóa. Ví dụ amino peptida là phân cắt tất cả các cái chuỗi peptit mà rời các axit amin đứng đầu ở cái phần phía đầu amin của chuỗi peptit. Còn đối với immunino thì là bất kể là ở cả đầu carboxi và đầu amin. Còn đối với tri và dipeptida là phân cắt trip pepeptit và dipeptit. Và sản phẩm tiêu hóa cuối cùng cái enzyme tiêu hóa protein ở ruột đấy là axitamin.

57:29 Đối với tiêu hóa lipit thì có ba loại enzyme thì là lipa, photospholipa cholesterol esta. Cơ chế tác dụng và cơ chất thì giống như đã đề cập như ở dịch tụy. Còn đối với nhóm enzyme tiêu hóa cbohydrat thì ở đây ngoài amilas manta giống như của dịch tụy thì ở các enzyme tiêu hóa carbohydrat của dịch ruột còn có isomanta, supra và lacta. Thì ở đây thì isomanta thì tiêu hóa các oligosacarit. Sucra thì làm phân cắt cái sucaros và lacta thì của lactos. Và sản phẩm tiêu hóa cuối cùng là các đường đơn. Và cụ thể tiêu hóa cuối cùng ở dịch ruột dưới tác dụng của enzyme tiêu hóa carbohydrat ở dịch ruột. Sản phẩm tiêu hóa cuối cùng là ba loại đường đơn. Một là glucose, hai là

58:15 fructo và ba là galacto. Trong đó gluco là chủ yếu chiếm cỡ khoảng 80 đến 85%. Về điều hòa bài tiết dịch ở ruột non thì cũng thế có liên quan đến cơ chế thần kinh. Cái vị trí kích thích dây thần kinh 10 sẽ là kích thích cái đám rối maser hoặc là cái phản xạ tại chỗ tức là kích thích ở niêm mạc ruột bao gồm kích thích cơ học và kích thích hóa học do các thành phần của thức ăn được tạo ra. Thì toàn bộ cái này sẽ là kích thích đám rối maser và đám rối maser này sẽ kích thích các tế bào biểu mô của cái tuyến niêm mạc ruột làm tăng cường bài tiết. Tăng cường bài tiết bao gồm tăng cường bài tiết enzyme tiêu hóa, bài tiết dịch và bài tiết bicarbonat. Và cơ chế con đường thứ hai liên quan

59:01 đến tặng điều hòa bài tiết dịch ở đây là liên quan đến các hócmôn ở trong các dịch cơ thể và cụ thể có hai loại hócmôn có tác dụng lên các tế bào biểu môn niêm mạc ruột. Một là CCK tức là coistokinin và hai làin và cả hai loại hócmôn này đều kích thích trực tiếp lên các tế bào biểu môn niêm mặc ruột và có thể làm tăng bài tiết các cái thành phần như đã đề cập đến ở trên. Thế thì bây giờ đến cái chức năng cuối cùng là hấp thu. Thì ở niêm mạc ruột thì có thể hấp thu cái gì? Thì hấp thu thứ nhất là hấp thu nước. Thì ở n ruột toàn bộ ruột non theo chiều dài thì đều có khả năng hấp thu và toàn bộ các thành phần của ruột non bao gồm hỗng tràng, hồi tràng, tá tràng và hấp

59:46 thu nước. Và tổng lượng nước một ngày được hấp thu ở đây là 90% tổng lượng nước. Thế thì à cỡ khoảng độ xấp xỉ 19 L. Thế thì bây giờ đối với hấp thu vitamin thì toàn bộ các cái vitamin tan trong nước thì dạng tự do không bị phân giải sẽ đều được hấp thu dạ dày trừ. Cái vitamin B12 thì hấp thu ở phần cuối của ruột non tức là hấp thu ở hồi tràng. Còn các vitamin phần lớn được hấp thu ở tái tràng và phần đầu của ruột non. Đối với ADK thì hấp thu theo cơ chế hấp thu của lipit. Đối với sản phẩm tiêu hóa cuối cùng của protein là amino axit thì cũng thể hấp thu dọc theo toàn bộ chiều dài của ruột non và được hấp thu theo cơ chế từ lòng ruột đi qua tế bào biểu mô sau đó vào

1:00:33 dịch kẽ rồi tập hợp theo các mau mạch vào các tĩnh mạch cửa để đưa về gan. Thế thì cơ chế hấp thu thì ở từ trong lòng ruột đi vào tế bào biểu mô niêm mạc ruột là theo hình thức vận chuyển tích cực từ trong cái chỗ tế bào biểu môn niêm mặc ruột vận chuyển ra dịch kẽ là theo cơ chế khuếch tán được thuận hóa hay khuếch tán được tăng cường hay là khuếch tán nhờ chất mang tức là ba tên gọ trong một hình thức và sau khi vào trong cái phần dịch kẽ này thì nó sẽ đi vào trong máu theo hình thức khuếch tán đơn thuần vào các cái mau mảnh để như bạc ruột và đi vào tập hợp theo tĩnh mạch cửa để về gan. Đối với carbohydrat thì sản phẩm tiêu hóa cuối cùng là gluco, fructo và galactos. Thì đối với gluco và galactose thì sẽ vận chuyển

1:01:20 tích cực. Ở đây là vận chuyển tích cực thư phát cùng với ion natri để đưa glucose và galacto vào trong tế bào biểu mô niêm mạc ruột. Sau đó thì glucose sẽ được vận chuyển theo hình thức khuếch tán được tăng cường vào dịch kẽ. Rồi từ dịch kẽ đi theo tĩnh mạch cửa để về gan. Đối với ruptô thì sẽ được vận chuyển theo hình thức khuếch tán được thuận hóa hay lực khuếch tán được tăng cường từ lòng ruột vào tế bào biểu mô niêm mạc. Rồi từ đây mới được khuếch tán được thuận hóa vào trong dịch kẽ. Một phần galacto và fructo cũng được chuyển hóa ngay thành glucose ngay trong tế bào biểu môn niêm mạc ruột. Rồi gluco ấy vận chuyển ra dịch kẽ để đi vào trong cái tĩnh mạch cửa để đi về gan. Đối với thành phần lipit

1:02:08 thì các anh chị lưu ý đây là đối với lipit thì sản phẩm tiêu hóa cuối cùng của lipit đấy là glycerol, axit béo và các monoglycerit. Thì đối với axit béo, monoglycer ở ngay trong lòng ruột thì nó sẽ được kết hợp với muối mật để tạo thành hạt men. và hạt men này mới khuếch tán được từ đây là lòng ruột đi vào sát cái rềm bàn trải vì tan trong nước cho nên mới tiếp xúc với rềm bàn trải. Đến chỗ rềm bàn trải này thì cái muối mật được tháo gắn được giải phóng và còn các cái thành phần lipit sẽ được khuếch tán đơn thuần qua lớp lipit kép để đi vào trong tế bào biểu mô niêm mặc ruột. Và trong tế bào biểu môi niêm mạc ruột thì các axit béo mạch ngắn tức là dưới 10 cacbon thì sẽ đi ra dịch kẽ rồi theo tĩnh mạch cửa về gan. Còn các axit béo kích thước lớn sẽ

1:02:55 kết hợp với monoglycerit trong tế bào biểu mô niêm mạc ruột để tạo thành triglycerit. Và triglycerit này sẽ gắn với các apoprotein được tổng hợp ở trong tế bào biểu môn đêm mặc ruột để gắn kết tạo thành silomicron. Hạt simolomicron sẽ được bài xuất vào trong cái dịch kệ dưới theo hình thức là ngoại suất bào. Và các cái túi các hạt này đi vào trong dịch kẽ thì kích thước lớn cho nên sẽ tập hợp đi theo cái mạch bạch huyết, theo ống ngực và vận chuyển theo ống ngực đổ về cái tuần hoàn hệ thống ở cái vị trí ở cái tĩnh mạch dưới đòn ở bên trái để đưa vào hệ thống tuần hoàn rồi mới đưa về gan. Như vậy đối với thành phần thứ glycerol thì là vì tan trong nước cho nên glycerol sẽ được vận chuyển và sau đó

1:03:41 được vận chuyển tích cực vào trong tế bào biểu môn niêm mạc ruột để kết hợp với cái monoglycerit axit béo để tạo thành triglycerit. Thì đấy là đối với liên quan đến cái hấp thu và lipit. Còn đối với các thành phần khác như là protein thì ở trẻ em ấ thì có thể hấp thu được các protein có kích thước nhỏ chưa được tiêu hóa bằng hình thức hấp thu đối với những trẻ dưới 6 tháng tuổi và cơ chế hấp thu là cơ chế ẩm bào. Đối với các thành phần khác là ion thì sẽ natri sẽ được hấp thu dọc theo toàn bộ niêm mạc của ruột non và ở bờ đáy và bờ bên thì đi vào dịch kẽ thông qua các bơm vận chuyển tích cực. Thế còn đối với ion clo sẽ khuếch tán

1:04:27 thụ động theo ion natri. Còn đối với bicbonat sẽ được hấp thu theo cái cơ chế là bicbonat sẽ ở trong lòng ruột sẽ đi vào trong tế bào biểu mô niêm bạc ruột và kết hợp với ion H+ tạo thành H2CO3 tr- và cái chỗ này sẽ phân ly cái H2CO3- phân ly thành nước và CO2 và CO2 sẽ phếch tán vào trong máu. Đối với canxi và mag thì được hấp thu chủ yếu ở phần đầu biểu mô của phần đầu của ruột non ở niêm mạc phần đầu ruột non và cơ chế vận chuyển là theo vận hình thức vận chuyển tích cực tức là ở tá tràng và phần đầu của hỗng tràng. Thì ở trên đây là toàn bộ cái liên quan đến cái phần hấp thu. Thế còn đối với ở ruột già thì các anh chị lưu ý thì ở đây thì đối với chức năng của ruột ở đại tràng thì chia làm hai phần. Đại tràng

1:05:13 phần gần tức là bao gồm đại tràng lên, đại tràng ngang và phần đầu của đại tràng xuống. Còn phần 2/3 xuống dưới của đại tràng xuống cộng đại tràng sigma thì đấy thuộc về đại tràng phần xa đế ống trực tràng và ông môn chức năng chính ở đây thì một phần các cái sản phẩm tiêu hóa sau khi đưa qua cái từ hỗng tràng xuống tá tràng xuống manh tràng và vào trong cái đại tràng chưa được hấp thu hết thì sẽ được tiếp tục được hấp thu bao gồm có khoảng 10% lượng nước chưa được hấp thu hết ở ruột non và một số các sản phẩm tiêu hóa như là axit amin hay glucose tức là đường carbohydrat chưa được hấp thu sẽ được hấp hấp thu thêm. Thứ hai là một số các sản phẩm ở trong đại tràng thì không có bài tiết bất kỳ enzyme gì tiêu hóa thức ăn cả. Một số các sản phẩm chưa được tiêu hóa hết ở ruột non thì sẽ được tiêu hóa ở dưới ở đại tràng dưới tác dụng của các

1:05:59 enzyme do cái hệ thống vi khuẩn đường ruột và cụ thể là vi khuẩn ở đại tràng được à tạo ra và tiêu hóa tiếp. Và ở đây thì có hấp thu thì bao gồm có hấp thu nước và hấp thu các sản phẩm còn lại. Và một số các vitamin như là vitamin K, vitamin B mấy được tạo ra thì sẽ được hấp thu. Ở đây các một số cái thành phần ion như ion natri chưa hấp thu hết sẽ tiếp tục được hấp thu ở cái phần đại tràng. Và hấp thu natri ở đây thì liên quan với bài tiết kali và dưới tác dụng của andcerol tức là hócmôn của tuến vỏ thượng thận. Cuối cùng cái sản phẩm bài tiết cuối cùng của đại tràng đấy là bài tiết nhảy. Thì các anh chị lưu ý như vậy. Như vậy là ở ruột già thì lưu ý hoạt động cơ học thì có ba loại là liên quan đến đóng mở van hồ manh tràng nhu động, phản nhu

1:06:46 động và động tác đại tiện. Thứ hai là bài tiết dịch thì lưu ý ở đây chỉ bài tiết chủ yếu là bài tiết nhầy. Đối với chức năng hấp thu thì chủ yếu là hấp thu nước, tức là khoảng 10% tổng lượng nước và tối đa là khoảng 20% lượng nước được hấp thu mỗi ngày ở đây. Và còn lại thì các sản phẩm chưa được tiêu hóa hết à chưa được hấp thu hết như là một ít gluco, axit amin rồi ion natri. Còn đối với ion natri được hấp thu ở đây là theo cơ chế khuếch tán và dưới tác hoặc là dưới tác dụng của anderol. Một số các vitamin nhóm B khác và như vitamin K được tạo ra dưới tác dụng của các enzyme của vi khuẩn đường ruột sẽ được hấp thu. Thì đối với các cái sản phẩm khí thì ở đây thì chủ yếu phần lớn thế là khoảng 10% được bào thải ra ngoài mỗi ngày thôi. Tức là thông qua trung tiện thế còn lại thì hấp thu trực tiếp

1:07:33 vào trong máu. Đối với phần cuối cùng của cái phần sinh sĩ tiêu hóa thì các anh chị lưu ý đến cái phần chức năng của gan thì trong đó có đề cập đến năm cái nhóm chức năng liên quan đến chức năng. Thứ nhất là dự trữ, thứ hai là có khả năng tổng hợp, thứ ba là bài tiết, cụ thể là bài tiết mật, thứ tư là chuyển hóa và thứ năm là chức năng bảo vệ. Thì đối với dự trữ thì điều ở đây dự trữ cái gì? Dự trữ cacbohyrat dưới dạng là glycogen. Thứ hai là dự trữ lipit dướ dạng thành phần là triglycerit ở trong các tế bào gan. Thứ ba là dự trữ protein. Thứ tư là dự trữ các vitamin và nhiều nhất đấy là vitamin A, vitamin D, vitamin K và vitamin B12. Đối với tổng hợp thì là tế bào gan có cái chức năng của gan có thể tổng hợp

1:08:19 một số các protein khác mà do cơ thể không được bù đắp vào nhưng mà cơ thể thì cần thì có khả năng tổng hợp với các protein ơ đáp ứng để kiến tạo cơ thể hoặc là thực hiện các chức năng khác của cơ thể. Thứ hai là tổng hợp các cái yếu tố đông máu. Thứ ba là tổng hợp protein đưa vào trong cái phần của máu như là albumin như các một số ít các globulin tế bào gan tổng hợp. Thứ ba, thứ tư đấy là phiinogen. Thứ năm đấy là một số các glycoprotein khác như là eritoboitin. Đấy ạ. Thế thì đối với chức năng bài tiết mà đã đề cập ở phần trước liên quan đến chức năng chuyển hóa thì ở đây là tế bào gan có khả năng chuyển hóa ví dụ chuyển hóa từ các cái tổng hợp cái axit amin từ các nguồn nguyên liệu không phải như là

1:09:04 chuyển hóa từ đường từ mỡ hoặc là chuyển hóa tổng hợp glucose từ nguồn nguyên liệu là axit amin và các axit béo. Đối với chức năng bảo vệ thì các anh chị lưu ý là tế bào gan có tham gia vào việc bảo vệ cơ thể bằng hai hình thức. Một là thực hiện các cái phản ứng liên hợp với các cái chất mà gây hại đối với cơ thể để đưa các cái chất này ra ngoài. Thứ hai là chuyển hóa thành các cái sản phẩm khác mà giảm bớt cái nguy cơ gây hại đối với cơ thể. Thì đấy là liên quan đến cái phần tiêu hóa. Bây giờ các anh chị nghỉ độ 3 phút để chúng tôi chuyển sang cái phần thứ tiếp theo là liên quan đến cái phần của sinh lý thận và bài tiết nước tiểu.

Share

YouTube Video Summaries