BÀI HỆ THỐNG PHÁP LUẬT _ TIẾT 2/4

Tóm tắt

Video này trình bày về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, một bộ phận quan trọng của hệ thống pháp luật Việt Nam. Bài giảng bao gồm các nội dung chính: khái niệm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật, phân loại văn bản quy phạm pháp luật và mối liên hệ giữa các văn bản này.

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là tập hợp các văn bản do nhà nước ban hành, có liên hệ chặt chẽ về nội dung và hiệu lực pháp lý.
  • Văn bản quy phạm pháp luật có 5 đặc điểm chính: do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, được ban hành theo thủ tục luật định, chứa đựng quy tắc xử sự chung, có giới hạn về phạm vi áp dụng và được nhà nước đảm bảo thực hiện.
  • Văn bản quy phạm pháp luật được phân loại thành văn bản luật (do Quốc hội ban hành) và văn bản dưới luật (do các cơ quan khác ban hành).
  • Các văn bản quy phạm pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ với nhau về hiệu lực pháp lý, nội dung, hiệu lực áp dụng theo thời gian và chức năng.

Khái niệm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là tổng thể các văn bản quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau về nội dung và hiệu lực pháp lý. Trong hệ thống này, các văn bản tồn tại trong một trật tự về thứ bậc hiệu lực pháp lý và có mối liên hệ về nội dung, tránh sự chồng chéo và mâu thuẫn. Yếu tố cấu thành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chính là văn bản quy phạm pháp luật.

Khái niệm và đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật là hình thức văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, thủ tục luật định, chứa đựng các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, được nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản và được áp dụng nhiều lần trong đời sống xã hội. Theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa đựng quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung và được áp dụng nhiều lần đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định.

Văn bản quy phạm pháp luật có 5 đặc điểm cơ bản:

  1. Do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức.
  2. Được ban hành theo thủ tục do pháp luật quy định.
  3. Chứa đựng các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung và được áp dụng nhiều lần trong đời sống xã hội.
  4. Có giới hạn về phạm vi áp dụng.
  5. Được nhà nước đảm bảo thực hiện.

Phân loại văn bản quy phạm pháp luật

Dựa vào hiệu lực pháp lý, văn bản quy phạm pháp luật được chia thành văn bản luật và văn bản quy phạm pháp luật dưới luật. Văn bản luật do Quốc hội ban hành, bao gồm hiến pháp, luật và nghị quyết. Văn bản quy phạm pháp luật dưới luật do các cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục, hình thức được luật quy định, nhưng có giá trị pháp lý thấp hơn văn bản luật.

Không phải tất cả các cơ quan trong bộ máy nhà nước đều có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Việc xác định rõ chủ thể được ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm xác định rõ trách nhiệm của chủ thể đó và tránh chồng chéo trong việc ban hành.

Mối liên hệ giữa các văn bản quy phạm pháp luật

Các văn bản quy phạm pháp luật có mối liên hệ với nhau về hiệu lực pháp lý, nội dung, hiệu lực áp dụng theo thời gian và chức năng.

  • Hiệu lực pháp lý: Các văn bản tồn tại trong một trật tự thứ bậc, hiến pháp có hiệu lực pháp lý cao nhất, sau đó đến luật và các văn bản dưới luật. Mọi văn bản trong hệ thống pháp luật đều phải phù hợp với hiến pháp và không được trái với hiến pháp.
  • Nội dung: Các văn bản phải thống nhất với nhau về nội dung, không được chồng chéo, mâu thuẫn. Văn bản của cơ quan nhà nước cấp dưới không được trái với văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên.
  • Hiệu lực áp dụng theo thời gian: Nếu có hai văn bản do cùng một cơ quan ban hành quy định về cùng một nội dung, thì văn bản được ban hành sau sẽ được ưu tiên áp dụng.
  • Chức năng: Văn bản của cơ quan nhà nước cấp dưới phải tổ chức thực hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên.

Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật

Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được xem xét trên 3 khía cạnh:

  • Hiệu lực theo thời gian: Xác định thời điểm bắt đầu và kết thúc áp dụng văn bản. Cần xem xét thời điểm phát sinh hiệu lực, thời điểm chấm dứt hiệu lực, tạm ngưng hiệu lực và hiệu lực trở về trước của văn bản.
  • Hiệu lực theo không gian: Xác định giới hạn tác động của văn bản trên phạm vi lãnh thổ quốc gia, một địa phương hoặc một vùng nào đó.
  • Hiệu lực theo đối tượng tác động: Xác định chủ thể, cá nhân, tổ chức nào sẽ chịu sự tác động của văn bản.

Mối quan hệ giữa hệ thống cấu trúc và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hệ thống cấu trúc của pháp luật là cơ sở cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Mối quan hệ giữa hai hệ thống này là mối quan hệ biểu hiện giữa nội dung và hình thức. Hệ thống cấu trúc là kết cấu bên trong, còn hệ thống văn bản là phương tiện biểu hiện ra bên ngoài.

Summarize any YouTube video in seconds

Get summaries like this one for any video, in your language, with the free Summ app.

Download on the Apple Store
Get it on Google Play

Transcript

YouTube Transcript Generator

0:28 Xin chào các em. Tiết học trước chúng ta đã tìm hiểu về khái niệm hệ thống pháp luật và các bộ phận hợp thành của hệ thống pháp luật. Chúng ta đã chỉ ra rằng là hệ thống pháp luật được hợp thành bởi hai cái yếu tố cơ bản. Thứ nhất là hệ thống cấu trúc của pháp luật và thứ hai là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Và chúng ta đã tìm hiểu được cái bộ phận đầu tiên, đấy chính là hệ thống cấu trúc của pháp luật. Vậy thì hệ thống cấu trúc của pháp luật đấy chính là những yếu tố thuộc về nội tại bên trong của hệ thống pháp luật nhưng muốn nhận diện được hệ thống pháp luật đó thì nó phải được biểu hiện ra bên ngoài bằng cái dạng thức cụ thể và các sự biểu hiện ra bên ngoài của hệ thống pháp luật đấy chính là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và cũng chính đây cũng chính là cái nội dung cơ bản của các tiết học ngày hôm nay ạ Vậy thì hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là gì và cái yếu tố để hợp thành

1:18 các hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là yếu tố nào cũng như là phân loại văn bản quy phạm mối liên hệ giữa các văn bản quy phạm pháp luật là nội dung chính của cái phần thứ hai này. Và thì thứ nhất là khái niệm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là tổng thể các văn bản quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành có mối liên hệ chặt chẽ với nhau về nội dung và hiệu lực pháp lý. Như vậy trong một hệ thống pháp luật nó bao gồm rất nhiều các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Dù các văn bản này nó đa dạng, nó phong phú, nhưng nó luôn luôn tồn tại trong một trật tự về thứ bậc hiệu lực pháp lý. Và giữa những văn bản này chúng có mối liên hệ với nhau về mặt nội dung. Tức là giữa các văn bản đó không được có sự trồng chéo, không có sự

2:05 mâu thuẫn. Điều đó dẫn tới là gì? Nó sẽ không làm cho phát huy được giá trị, hiệu quả điều chỉnh các quan hệ xã hội và thậm chí nó có thể triệt tiêu hiệu lực pháp lý của nhau. Vậy thì hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nó bao gồm rất nhiều các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Điều đó có nghĩa rằng cái yếu vố tố hay là cái bộ phận tạo thành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đấy chính là văn bản quy phạm pháp luật. Vậy thì văn bản quy phạm pháp luật là gì? Và với tư cách là một cái hình thức văn bản trong hệ thống văn bản của nhà nước thì văn bản quy phạm pháp luật có những đặc điểm nào để chúng ta có thể phân biệt được với những loại văn bản nhà nước khác, ví dụ văn bản áp dụng quy phạm pháp luật hay là văn bản hành chính thông thường. Chúng ta đi sang phần thứ 2

2:52 là khái điểm và đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật. Một cách chung nhất thì người ta hiểu rằng văn bản quy phạm pháp luật là một hình thức văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thầm quyền hình thức thủ tục luật định. Trong đó có các quy tắc xử sự mang tính bắt bậc chung được nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản và được áp dụng nhiều lần trong đời sống xã hội. Và đây là một cái khái niệm về văn bản quy phạm pháp luật mang tính học thuật. Nhưng bên cạnh đó thì hiện nay ở nước ta cũng có một cái luật, một cái văn bản quy định về cái trình tự thủ tục thầm quyền ban hành văn bản của các cơ quan nhà nước. Đấy chính là luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Và tại điều 2 của luật ban hành văn bản quy phạm pháp

3:37 luật thì người ta đưa ra định nghĩa rằng là Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa đựng quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung và nó được áp dụng nhiều lần đối với các cơ quan, tổ chức cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc là đơn vị hành chính nhất định. Do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong luật này và được nhà nước đảm bảo thực hiện. Như vậy, chúng ta sẽ thấy rằng là Dù là theo cái định nghĩa mang tính chất học thuật hay là theo định nghĩa được quy định tại pháp luật thực định thì chúng ta cũng đều sẽ thấy rằng là nói tới văn bản quy phạm pháp luật thì nó là một cái hình thức văn bản mà chỉ do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành thôi và trong đó nó chứa đựng các quy tắc xử

4:24 sự mang tính bắt buộc chung và được nhà nước đảm bảo thực hiện. Vậy thì về cụ thể để có thể phân biệt được giữa văn bản quy phạm pháp luật với những hình thức văn bản nhà nước khác thì người ta dựa vào đâu? Về cơ bản thì người ta chỉ ra rằng là văn bản quy phạm pháp luật nó sẽ có 5 cái đặc điểm cơ bản sau đây. Thứ nhất là do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hoặc ban hành theo thẩm quyền hình thức. Thứ hai là được ban hành theo thủ tục do pháp luật quy định. Và thứ ba nó chứa đựng các quy tắc xử sự mang tính bắt bột chung và được áp dụng nhiều lần trong đời sống xã hội. Và thứ tư nó có giới hạn về phạm vi áp dụng cũng như được nhà nước đảm bảo thực hiện. Vậy thì cái đặc điểm đầu tiên là Hãy subscribe

5:11 cho kênh Ghiền Mì Gõ Để không bỏ lỡ những video hấp dẫn Và nó cũng có thể chỉ là một cá nhân, ví dụ như là chủ tịch nước hay là thủ tướng chính phủ. Và mỗi một cái chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì họ cũng đều chỉ được phép ban hành một hình thức văn bản hoặc một số hình thức văn bản nhất định vậy thôi. Ví dụ thủ tướng chính phủ được phép ban hành một hình thức văn bản, đấy là quyết định. Nhưng quốc hội thì được phép ban hành một số văn bản, ví dụ như là hiến pháp, luật hay là nghị quyết, vâng vâng. Một cái đặc

6:02 điểm thứ hai của văn bản quy phạm luật đó là được ban hành theo thủ tục do pháp luật quy định. Văn bản quy phạm pháp luật nó chứa được các quy tắc xử sự được áp dụng phổ biến đối với các chủ thể khác nhau trong những điều kiện hoàn cảnh nhất định. Và vì vậy nó không thể được ban hành một cách tùy tiện mà nó phải tuân thủ những cái thủ tục tức là các bước các giai đoạn mà nhà nước đã quy định trong luật. Nếu như thiếu đi một bước một giai đoạn nào đó thì có thể cái văn bản đó sẽ không có giá trị. hiệu lực pháp đấy. Ví dụ như là quy trình về việc ban hành thông tư là như thế nào? Quy trình về việc ban hành nghị quyết của Hội đồng Nhân dân nó trải qua mấy bước? Quyết định của Hỷ ban Nhân dân nó trải qua mấy bước? Rồi là thông tư của Bộ trưởng thì phải trải qua những bước nào?

6:47 Tất cả những điều này nó đều được quy định trong luật. Mà cụ thể đây là luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Một cái đặc điểm thứ ba của văn bản quy phạm pháp luật là nó có quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung Và được áp dụng nhiều lần trong đời sống xã hội Văn bản quy phạm chứa đựng quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung Tức là văn bản đó đưa ra những quy tắc, những chuẩn mực cho hành vi xử sự của con người Và đương nhiên, văn bản này không phải áp dụng cho một chủ thể cụ thể nào đó Mà nó áp dụng cho tất cả các chủ thể Khi họ đã rơi vào điều kiện, hoàn cảnh mà nhà nước đã dự điều chỉnh Thì dù muốn hay không muốn, họ đều phải điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với yêu cầu của pháp luật Ví dụ, khi chúng ta ra đường, tín hiệu đèn đỏ bật lên, tất cả mọi phương tiện đều phải dựng lại. Khi tham gia giao thông bằng xe

7:35 gắn máy, những người ngồi trên xe phải đổi bú bảo hiểm. Cái tính bắt buộc của pháp luật nó thể hiện rất rõ. Và một vấn đề tiếp theo nữa là cái văn bản quy phạm pháp luật nó được áp dụng nhiều lần trong đời sống xã hội. Việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật không đồng thời làm chấm dứt hiệu lực của nó. Một cái văn bản càng tồn tại lâu dài trong đời sống thì nó càng thể hiện được cái tính chất nhân văn của văn bản, của pháp luật. Đồng thời nó cũng thể hiện được cái trình độ kỹ thuật lập pháp cao. Ai ban hành ra, cơ quan nào ban hành ra thì cũng mong muốn rằng nó tồn tại trong đời sống xã hội một cách lâu dài. Và vì thế, thậm chí người ta không thể đếm được là một văn bản từ khi nó áp dụng vào đời sống xã hội thì đã có bao nhiêu chủ thể và nó được áp dụng bao nhiêu lần. Ví dụ, Bộ luật hình sự năm 1985 được áp dụng từ thời điểm nó

8:25 phát sinh hiệu lực cho đến khi nó bị thay thế vào ngày 1 tháng 7 năm 2000 bởi bộ luật hình sự năm 1999. Và trên thực tế trên thế giới cũng có những cái hiến pháp, có những cái văn bản nó tồn tại hàng trăm năm mà nó chưa từng bị sửa đổi. Ví dụ như là hiến pháp của Mỹ chẳng hạn mà nó chỉ bổ sung thêm một số những điều khoản mà thôi, những tu chính án mà thôi. Hoặc ví dụ như hiến pháp ở Việt Nam, hiến pháp 1992 được áp dụng cho đến khi nó bị sửa đổi bổ sung vào năm 2013 và chúng ta gọi đó là kiến pháp mới 2013. Một cái đặc điểm thứ tư là văn bản quy phạm pháp luật nó được áp dụng cho nhiều người. Nhưng điều đó không có nghĩa rằng nó không có giới hạn về phạm vi. Phạm vi áp dụng đây nó có thể là gì áp dụng đối với những chủ thể nhất định. Nó cũng

9:12 có thể là gì áp dụng trong một cái phạm vi không gian nào đó, ví dụ áp dụng trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Bộ luật hình sự được áp dụng trên phạm vi toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Nhưng cũng có thể nó chỉ được áp dụng một cái văn bản nào đó nó chỉ được áp dụng ở một cái vùng lãnh thổ nào đó mà thôi Ví dụ văn bản do Hội đồng Nhân dân, Ủy ban nhân dân, ban hành thì nó chỉ có hiệu lực áp dụng trong phạm vi địa giới của thành phố Hồ Chí Minh Và cũng có những văn bản mà nó có thể áp dụng với nhiều chủ thể nhưng cũng có thể nó chỉ áp dụng đối với một số chủ thể nhất định mà thôi Ví dụ như là cái quy định của nhà nước cái thông tư quy định về cái chế độ đãi ngộ đối với nạn nhân chất độc nhiễm chất độc da cam chẳng hạn thì chỉ áp dụng đối với nạn nhân nhiễm chất độc da cam mà không áp dụng đối với những đối

9:58 tượng khác một cái đặc điểm thứ năm đó là văn bản quy phạm pháp luật được nhà nước đảm bảo thực hiện à điều này chúng ta có thể lý giải ở những cái bài học trước rồi à văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng các quy tắc xử xử do nhà nước ban hành nhà nước ban hành ra thì nhà nước có nghĩa vụ trách nhiệm để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện, tức là cho văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện. Vậy thì nhà nước đảm bảo bằng cách nào? Bằng cách là nhà nước đưa ra những quy phạm pháp luật, những văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với thực tế đời sống, tức là đảm bảo sự phù hợp về uy tín nội dung của văn bản quy phạm. Và đồng thời nhà nước có thể áp dụng một số những biện pháp khác, ví dụ tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật bằng các biện pháp tổ chức hành chính kinh tế Và

10:46 trong những trường hợp đặc biệt nhà nước có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước. Như vậy, về cơ bản, để phân biệt giữa văn bản quy phạm pháp luật với những hình thức văn bản nhà nước khác thì chúng ta có thể dựa vào 5 cái đặc điểm cơ bản này. Vậy thì, để tạo thành cái hệ thống pháp luật của một quốc gia thì nó không phải bao gồm một vài cái văn bản mà nó bao gồm rất rất nhiều các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. thì nó có thể là tạo thành gì là một hệ thống ạ Và vì thế dựa vào các tiêu chí khác nhau thì người ta cũng phân loại văn bản thành các loại văn bản khác nhau ạ Đương nhiên cái vấn đề phân loại văn bản nó chỉ là vấn đề mang tính chất học thuật mà thôi còn thực tế khi chúng ta nghiên cứu luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì nó không có sự

11:32 phân loại mà tại điều 4 của luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật người ta chỉ trình bày mang tính chất liệt kê cơ quan nào có thẩm quyền ban hành loại văn bản gì mà thôi Và một cách phổ biến nhất là người ta dựa vào hiệu lực pháp lý của văn bản để phân loại. Và nếu như dựa vào hiệu lực pháp lý của văn bản thì người ta chia thành là văn bản luật và văn bản quy phạm pháp luật dưới luật. Vậy thì văn bản luật ở Việt Nam là do cơ quan nhà nước có thầm quyền quyền lực nhà nước cao nhất ban hành, đấy chính là quốc hội. Và theo quy định của luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì quốc hội có quyền ban hành 3 loại văn bản, đó là hiến pháp, bộ luật, luật. và nghị quyết về đi về cơ bản đấy về cơ bản thì nghị quyết của quốc hội có thể được coi là văn bản quy phạm

12:19 pháp luật nhưng trên thực tế trong quá trình hoạt động của mình thì quốc hội cũng có ban hành những nghị quyết và không hẳn là nghị quyết nào của quốc hội cũng được gọi là văn bản quy phạm pháp luật Ví dụ nghị quyết số 92 của quốc hội về việc bãi nhiệm đã tư cách đại biểu quốc hội của đại biểu quốc hội Châu Thị Thu Nga của đoàn đại biểu quốc hội thành phố Hà Nội khi mà quy phạm pháp luật. Vậy thì trong trường hợp này cái nghị quyết của Quốc hội nó không phải là văn bản quy phạm pháp luật mà nó giữ tư cách là văn bản áp dụng quy phạm pháp luật. Một cái loại văn bản thứ hai đó là văn bản quy phạm pháp luật dưới luật. Đây là những văn bản mà do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc phối hợp ban hành theo trình tự thủ tục hình thức được luật quy định nhưng nó lại có giá trị

13:06 thấp hơn văn bản luật. Như vậy nếu chúng ta cân cứ vào điều 4 của luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chúng ta trừ đi những văn bản do quốc hội ban hành, thì những văn bản còn lại được liệt kê, đấy chính là văn bản gì? Quy phạm pháp luật giới luật. Và cụ thể, tại điều 4 của luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, người ta liệt kê rất là nhiều những hình thức văn bản. Từ văn bản của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho đến văn bản của Thủ tướng Chính phủ. cũng như là văn bản của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao và toàn bộ những hình thức văn bản này có tên gọi là gì và do ai ban hành chúng ta có thể xem tại điều 4 của luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Vậy thì nếu như căn cứ vào luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật chúng ta sẽ thấy rằng là

13:52 không phải tất cả các cơ quan trong bộ máy nhà nước đều có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Ví dụ như ở địa phương, Ủy ban Nhân dân chúng ta thấy có các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban Nhân dân. Vậy thì Câu hỏi đả ra là không có quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Vậy thì câu hỏi đả ra là tại sao pháp luật không trao quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho tất cả các cơ quan trong bộ máy nhà nước mà chỉ liệt kê một cách có giới hạn những chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật mà thôi. Em nào biết? Rồi mời em. Thưa cô, việc xác định rõ chủ thể được ban hành văn bản quy phạm pháp luật là nhằm hai mục đích. Mục đích thứ nhất là để xác định rõ chủ thể và xác định rõ trách nhiệm của chủ thể đó trong việc ban hành văn bản quy

14:39 phạm pháp luật. Và cái thứ hai là để tránh tròng chéo trong việc ban hành tránh lạc quyền. Thưa cô. Rồi, cảm ơn em. Như vậy công trả lời của bạn là hoàn toàn chính xác đúng không ạ? Ở hệ thống pháp luật của một nhà nước thì nhà nước ban hành ra pháp luật để mà đặt ra các quy tắc xử sự đối với các chủ thể. Và cái việc đặt ra những cái quy tắc xử sự này nó có thể tác động tới các chủ thể khác nhau. Nó có thể hạn chế đi cái quyền tự do của họ và đồng thời cũng có thể làm thiệt hại đến cái lợi ích nhưng nó cũng có thể mang lại cho một chủ thể khác một cái lợi ích nào đó. Và vì thế cái việc ban hành văn bản nó không thể là một sự tùy tiện. Bởi vì chúng ta xác định được chủ thể ban hành có nghĩa rằng chúng ta có thể xác định được trách nhiệm của chủ thể đó và đồng thời nó tránh được cái hiện tượng là mâu thuẫn, trồng chéo

15:24 Về nội dung của các văn bản Trong một kỳ họp gần đây của Quốc hội Nguyên Bộ trưởng Bộ Tu pháp Hà Hùng Cường đã phát biểu rằng là gì? Trên thế giới không có một nhà nước nào mà có một hệ thống pháp luật phức tạp như ở Việt Nam Hệ thống pháp luật Việt Nam nó giống như là một rừng luật Và vì thế, cái xu hướng của pháp luật Việt Nam hiện nay đó là gì? Người ta càng ngày càng thu giảm, tức là thu cái đầu mối có thẩm quyền ban hành, văn bản lại để xác định được cái thẩm quyền trách nhiệm cũng như là tránh cái sự trồng chéo, cái sự mâu thuẫn giữa các văn bản. Một câu hỏi khác là trong cái hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thì Hội đồng Nhân dân các cấp là cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật với tên là nghị quyết. Vậy thì có phải mọi nghị quyết do Hội đồng Nhân

16:11 dân ban hành đều được gọi là văn bản quy phạm pháp luật hay không? Rồi, mời em. Thưa cô là mọi nghị quyết mà Hội đồng Nhân dân ban hành thì không... không phải tất cả đều là văn bản quy phạm pháp luật. Ví dụ như là văn nghị quyết bãi miễn các đại biểu Hội đồng Nhân dân hoặc là nghị quyết của Hội đồng Nhân dân cấp trên, giải tán Hội đồng Nhân dân cấp với thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật. Đúng rồi, cảm ơn em. Như vậy, câu trả lời của bạn là chính xác và bạn cũng lấy ví dụ cũng là chính xác. Bởi vì không phải là mọi văn bản nghị quyết do Hội đồng Nhân dân ban hành đều được gọi là văn bản quy phạm pháp luật. Bởi vì có những nghị quyết do Hội đồng Nhân dân ban hành, ví dụ như nghị quyết về bãi miễn tư cách đại biểu Hội đồng Nhân dân hoặc là nghị quyết của Hội đồng Nhân

16:58 dân về việc phê chuẩn kết quả bầu cử thì nó không được gọi là văn bản quy phạm pháp luật. Trước đây được quy định tại nghị định số 91 của chính phủ. Và tương tự như vậy là Ủy ban nhân dân các cấp cũng được quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật có tên gọi là quyết định. Nhưng không phải mọi quyết định của Ủy ban nhân dân đều được gọi là văn bản quy phạm pháp luật. Ví dụ quyết định về chỉ tiêu biên chế hay là quyết định về khoán biên chế kinh phí của Ủy ban nhân dân thì nó không được gọi là văn bản quy phạm pháp luật. Vậy thì hệ thống pháp luật của một quốc gia nó bao được biểu hiện và nó bao gồm rất nhiều các văn bản. Vậy thì giữa những cái văn bản này chúng có mối quan hệ với nhau như thế nào? Và tự trung lại thì người ta thường chỉ ra một số những cái mối liên hệ sau đây. Thứ nhất là mối liên hệ về hiệu lực pháp lý, về nội dung

17:47 về hiệu lực áp dụng theo thời gian, về chức năng, v.v. Vậy thì thứ nhất là cái mối liên hệ về hiệu lực pháp lý. Có thể nói rằng là cái mối liên hệ giữa các văn bản về hiệu lực pháp lý đấy chính là cái cơ sở có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra cái tính hệ thống của pháp luật. Các văn bản quy phạm pháp luật luôn tồn tại trong một trật tự thứ bậc về hiệu lực pháp lý từ cao xuống thấp. Và trong cái hệ thống đó thì hiến pháp được coi là văn bản có giá trị hiệu lực pháp lý cao nhất. Các bạn hãy tưởng tượng rằng là hệ thống pháp luật nó giống như là một hình chóp nón. Vậy thì trong hình chóp nón đó, hiến pháp đứng ở cái ngọn cao nhất, tức là văn bản có giá trị hiệu lực pháp ý cao nhất. Và dưới đó là các bộ luật. Rồi dưới đó là các văn bản quy phạm pháp luật dưới

18:33 luật. Và hệ thống văn bản này cùng tác động dưới chân tháp, đấy chính là đời sống xã hội. Và hiệu lực pháp lý của các văn bản này giảm dần khi tác động xuống đời sống xã hội. Điều đó cũng có nghĩa rằng là gì? mọi văn bản trong hệ thống pháp luật đều phải phù hợp với hiến pháp và không được trái với hiến pháp. Một cái mối liên hệ thứ hai đó là mối liên hệ về mặt nội dung. Các văn bản quy phạm pháp luật dù đa dạng, dù được quy định ở rất nhiều những lĩnh vực khác nhau, nhưng nó đều đòi hỏi là nó phải có sự thống nhất với nhau về mặt nội dung. Tức là nó không được trồng chéo, không được mâu thuẫn nhau. Nếu trồng chéo, mâu thuẫn thì nó sẽ không thể phát huy được hiệu quả điều chỉnh trong đời sống xã hội. Và thậm chí nó có

19:22 thể là méo mó các quan hệ xã hội và nó làm đào lộn trật tự đời sống xã hội. Vì vậy nó đòi hỏi là giữa các văn bản này chúng phải có sự thống nhất. Ví dụ như là văn bản của cơ quan nhà nước cấp dưới không được trái với văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên. Văn bản của chính quyền địa phương không được trái với văn bản của chính quyền trung ương. Với mối liên hệ này thì chúng ta có thể lấy một ví dụ Ví dụ theo thông tư số 01 năm 2014 của Tòa án Nhân dân tối cao quy định là khi nhà báo tham dự để đưa tin về diễn biến phiên tòa thì phải xuất trình thẻ nhà báo và giấy giới thiệu công tác. Và giấy giới thiệu công tác phải nộp cho thư ký tại bàn chậm nhất là 15 phút trước giờ khai mạng. Tuy nhiên cái thông tư số 01 là sự hướng dẫn của điều 8 nghị định số 51

20:10 thi hành luật báo chí. Và trong luật báo chí thì lại không quy định như vậy. Điều tá Nguyên định 51 quy định rằng nhà báo được hoạt động nghiệp vụ lấy tin chụp hình, quay phim, ghi âm tạ các phiên tòa. Phiên tòa được phỏng vấn luật sư, được phỏng vấn thẩm phán theo quy định của pháp luật. Như vậy ở đây, cái việc mà quy định thêm là phải có thẻ nhà báo. Người ta có thể coi rằng là đấy chính là một cái việc mà đẻ ra thêm một cái giấy phép con. Bởi vì tôi là phóng viên thường trú, tôi thường trú ở cái địa bàn này và tôi thường xuyên đến lấy tin. thì không có lý do gì để cứ mỗi lần để lấy tin lại phải có giấy giới thiệu công ta. Ví dụ như thế. Hoặc là một ví dụ khác là thuế thu nhập cá nhân năm 2012 quy định. Việc chuyển nhượng nhà ở, đất ở duy nhất của cá nhân được miễn thuế thu nhập cá nhân. Như vậy tôi có một căn nhà duy nhất. Khi tôi bán

20:57 tôi không phải đóng thuế thu nhập cá nhân. Nhưng nghị định số 65 và thông tư 111 của Bộ Tài chính thì lại quy định là chỉ miễn thuế cho người bán căn nhà duy nhất với điều kiện đã sở hữu đủ 183 ngày và phải bán nguyên căn. Vậy thì trong trường hợp này, ví dụ như tôi, có một căn nhà, tôi mắc bệnh hiểm nghèo và cần phải bán đi nửa căn để lấy tiền chữa bệnh. Vậy thì tôi muốn được miễn thuế thu nhập cá nhân thì có nghĩa rằng tôi phải bán cả căn nhà đó. Thì liệu rằng nó có phù hợp hay không? Và hơn nữa, con số 183 ngày, liệu rằng nó có phù hợp hay không? Đấy là những vấn đề mà đặt ra. Một cái mối liên hệ tiếp theo đó là mối liên hệ về hiệu lực áp dụng theo thời gian mỗi một văn bản thì nó đều có cái giá trị áp dụng vào đời sống do cùng một cơ quan ban hành được

21:45 quy định về cùng một nội dung Vậy thì nếu như trong trường hợp mà nó được ban hành ở hai thời điểm khác nhau thì về mặt nguyên tắc bao giờ chúng ta cũng lựa chọn văn bản được áp dụng ban được ban hành gì ban hành sau tức là do cùng một cơ quan ban hành thì sẽ được áp dụng văn bản ban hành sau. Ví dụ năm 2007, UBTHH ban hành một quyết định về chế độ đãi ngộ đối với cán bộ xã phường và trong đó quy định là mỗi cán bộ xã phường ngoài tiền lương ngân sách nhà nước có thể được ngân sách thành phố hỗ trợ 1 triệu đồng một người một tháng. Sau đó đến năm 2012, UBTH lại ban hành một quyết định có nội dung tương tự trong đó chỉ sửa lại gì mức hỗ trợ không phải là 1 triệu mà nó tăng lên 2 triệu đồng. Vậy thì trong

22:32 trường hợp này chúng ta sẽ ưu tiên áp dụng gì? Văn bản được ban hành sau, tức là ban hành vào năm 2012. Một cái mối liên hệ tiếp theo mà chúng ta nghiên cứu đó là văn bản, mối quan hệ về chức năng, văn bản của cơ quan nhà nước cấp dưới phải tổ chức thực hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên. Vậy thì có khi nào có trường hợp ngược lại hay không? Đấy là cái mối liên hệ về chức năng. Liên quan đến văn bản quy phạm pháp luật thì còn có một vấn đề cực quỳ quan trọng. Đấy chính là vấn đề về hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật. Khi chúng ta xem xét về một văn bản quy phạm pháp luật, áp dụng một văn bản quy phạm luật nào đó, thì chúng ta cần phải xác định được giá trị thi hành của văn bản đó vào trong đời sống xã hội. Và để xác định được giá trị thi hành của văn bản vào trong đời sống xã hội, người ta thường xem xét chúng ở trên

23:19 3 cốc độ. Thứ nhất là hiệu lực theo thời gian. Thứ hai là hiệu lực theo không gian. Và thứ ba là hiệu lực theo đối tượng tác động. Vậy điểm thứ nhất là hiệu lực theo thời gian của văn bản. Hiệu lực theo thời gian của văn bản chính là việc chúng ta xác định thời điểm bắt đầu áp dụng văn bản và đời sống cho đến khi chấm dứt sự tác động của văn bản đó. Ví dụ là ngày 1 tháng 1 năm 2014 là thời điểm bắt đầu áp dụng văn bản và đời sống và thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2017 là thời điểm chấm dứt sự tác động của văn bản. Vậy thì thời điểm từ ngày 1 tháng 1 năm 2014 đến ngày 31 tháng 12 năm 2017, đấy chính là hiệu lực theo thời gian của văn bản. Vậy thì khi xem xét hiệu lực theo thời gian của văn bản, người

24:05 ta phải xác định được thời điểm bắt đầu và đồng thời xác định được thời điểm kết thúc của văn bản. Nhưng trong quá trình áp dụng văn bản vào đời sống, ví dụ như người ta phát hiện ra rằng là văn bản đó có dấu hiệu trái pháp luật chẳng hạn, thì văn bản đó sẽ có thể tạm thời bị ngưng hiệu lực để xem xét. Và một vấn đề nữa là về mặt nguyên tắc thì văn bản chỉ áp dụng vào đời sống kể từ thời điểm nó phát sinh hiệu lực. Nhưng xuất phát từ tính chất nhân đạo của nhà nước, xuất phát từ nguyên tắc có lợi cho người được áp dụng. Pháp luật. Mà trong nhiều trường hợp, nhà nước sẽ cho phép áp dụng văn bản đối với những vụ việc đã xảy ra trước ngày. Nó có giá trị thi hành, tức là bắt đầu áp dụng vào đời sống. Và trong khoa học bác lý, người ta gọi nó là hiệu lực trở về trước của văn

24:50 bản hay là hiệu lực hồi tố của văn bản. Như vậy tóm lại là gì? Khi nghiên cứu về hiệu lực theo thời gian của văn bản, chúng ta sẽ xem xét 4 vấn đề. Thời điểm phát sinh hiệu lực, thời điểm chấm dứt hiệu lực, tạm ngưng hiệu lực và vấn đề về hiệu lực trở về trước của văn bản. Vậy thì thời điểm phát sinh hiệu lực của văn bản xác định bằng cách nào? Thứ nhất là nếu có điều khoản xác định rõ thời điểm phát sinh hiệu lực, thì chúng ta cứ theo điều khoản đó mà áp dụng. Ví dụ, bộ luật hình sự quy định. là bộ luật này có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2016 thì cứ đến thời điểm này chúng ta áp dụng. Nhưng thực tế cũng có những trường hợp mà văn bản không có điều khoản xác định rõ thời điểm phát sinh hiệu lực thì trong trường hợp này chúng ta lại phải áp dụng theo quy định chung của luật

25:36 ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Cụ thể là gì? Đối với văn bản của chính quyền Trung ương thì không sớm hơn 45 ngày và đối với cấp tỉnh là không sớm hơn 10 ngày kể từ ngày ký ban hành và đối với cấp xã là không sớm hơn 7 ngày kể từ ngày ký ban hành. Như vậy ở mỗi một cấp khác nhau thì người ta quy định những cái thời điểm có hiệu lực pháp luật là không giống nhau. Và với cách xác định này thì nó tạo ra sự dễ dàng cho người áp dụng pháp luật một cách thống nhất hơn. Và thực tế cũng có những trường hợp là có những cái văn bản mà nó có điều khoản ghi rõ nhưng mà nó lại nhiều hơn 45 ngày. Ví dụ như văn bản của các cơ quan nhà nước ở Trung ương hoặc nó ghi rõ và nó bằng với 45 ngày, hoặc

26:22 nó ghi rõ nhưng nhỏ hơn 45 ngày, thì trong trường hợp này chúng ta sẽ áp dụng như thế nào. Và đương nhiên nếu như nó lớn hơn hoặc nó bằng 45 ngày thì chúng ta cũng theo điều khoản đó mà áp dụng. Còn nếu như nó có điều khoản ghi rõ nhưng lại nhỏ hơn 45 ngày thì lại tùy từng trường hợp. Ví dụ là những văn bản được ban hành trong tình thế cấp bách, ví dụ là thiên tai, lũ lụt địch họa v.v. và được ban hành theo thủ tục rút gọn thì nó có thể có hiệu lực sớm hơn nhưng nó phải được quy định trong văn bản và nó gì được đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng. Một cái vấn đề thứ hai đó là về xác định thời điểm chấm dứt hiệu lực của văn bản tức là xác định xem là đến thời điểm nào chúng ta không áp dụng văn bản vào đời sống nữa. Trong trường hợp này chúng ta cũng xác định theo hai cách. Cách thứ nhất là thời điểm chấm dứt hiệu lực của văn

27:10 bản thì đến thời điểm đó chúng ta không áp dụng nữa. Ví dụ nghị quyết số 19 của Quốc hội về việc thí điểm tổ chức cho cá nhân nước ngoài được phép mua nhà sở hữu tại Việt Nam. Và trong nghị quyết này quy định rõ là có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2009 và áp dụng thí điểm trong thời hạn 5 năm. Như vậy chúng ta sẽ xác định được cái thời điểm chấm dứt hiệu lực trong trường hợp này là năm nào, ngày tháng năm nào. Như vậy 5 năm thì thời điểm chấm dứt hiệu lực của văn bản sẽ chấm dứt vào ngày 31 tháng 12 năm 2013. Vậy thì để có thể xác định được cái thời điểm chấm dứt hiệu lực của văn bản thì chúng ta dựa vào những căn cứ nào. Thực tế sẽ có một số những căn cứ sau đây. Thứ nhất, thời điểm chấm dứt hiệu

27:58 lực của văn bản là thời điểm văn bản được thay thế bằng văn bản của chính cơ quan đã ban hành ra văn bản đó. Ví dụ luật giao thông đường bộ năm 2001 được thay thế bởi luật giao thông đường bộ năm 2008 và cả hai cái văn bản này đều do quốc hội ban hành. Một cái trường hợp thứ hai là văn bản bị bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước cá nhân có thẩm quyền. Khi bị bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì văn bản đó chấm dứt hiệu lực. Ví dụ pháp lệnh Nghĩa vụ Lao động Công Ích năm 1999 nó được chấm dứt bởi Nghị quyết 1014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Và cái pháp lệnh này sẽ chấm dứt vào ngày 1 tháng 1 năm 2007. Một trường hợp thứ 3 đó là văn

28:45 bản chấm dứt hiệu lực khi không còn đối tượng điều chỉnh. Ví dụ như là địa bàn TP.HCM phát sinh dịch cúm da cầm và Ủy ban TP.HCM đã ban hành ra chỉ thị về đẩy mạnh các biện pháp phòng ngừa dịch cúm da cầm. Vậy thì khi dịch cúm da cầm chấm dứt thì chỉ thị này cũng sẽ chấm dứt hiệu lực. Như vậy chúng ta sẽ có một số những trường hợp mà có thể xác định được thời điểm chấm dứt hiệu lực của văn bản. Theo quy định tài điều 154 của luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì xác định rất rõ là khi nào thì văn bản quy phạm pháp luật chấm dứt hiệu lực. Và ngoài ra thì trong khi nghiên cứu về hiệu lực của văn bản chúng ta cũng xem xét về cái thời điểm tạng ngưng hiệu lực của văn bản. Một văn bản bị tạng ngưng hiệu lực thì nó tạng dừng cho đến khi có quyết định xử lý của cơ

29:32 quan nhà nước có thẩm quyền. Và kết quả xử lý đó có thể là văn bản đó tiếp tục có hiệu lực hoặc nó cũng có thể là chấm dứt dế hiệu lực thi hành. Một vấn đề thứ tư đó là hiệu lực trở về trước của văn bản. Hiệu lực trở về trước của văn bản là việc áp dụng văn bản đối với những vụ việc xảy ra trước ngày văn bản đó phát sinh hiệu lực ngay từ thời điểm là văn bản đó được thông qua hoặc là mới ban hành. Và về mặt nguyên tắc thì chỉ áp dụng hiệu lực trở về trước đối với văn bản của các cơ quan nhà nước ở Trung ương khi mà nó đảm bảo được cái lợi ích của các chủ thể được áp dụng. Còn đối với địa phương thì không áp dụng hiệu lực trở về trước. Và trong luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng xác định hai trường hợp không được quy định, quy định hiệu được trở về trước của văn bản. Thứ nhất là quy định trách nhiệm pháp lý mới.

30:21 Như vậy nếu như văn bản cũ không quy định hành vi này là tội phạm mà văn bản ban hành sau có quy định thì chúng ta không được phép áp dụng văn bản sau đối với hành vi đã xảy ra. Ví dụ trong bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội mua bán chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người hay là tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại. Đây là những tội danh được quy định trong bộ luật mới. Vì thế đối với những hành vi đã thực hiện trước thời điểm là bộ luật này phát sinh hiệu lực thì chúng ta sẽ không áp dụng điều luật này. Một trường hợp thứ hai đó là khi mà quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn thì chúng ta cũng không áp dụng hiệu lực trở về trước của văn bản. Có nghĩa rằng trong trường hợp này chúng ta sẽ phải so sánh là giữa 2 văn bản đều quy định về hành vi

31:11 đó thì văn bản nào quy định hình phạt nhẹ hơn, văn bản nào quy định hình phạt nặng hơn. Nếu nặng hơn chúng ta không được phép áp dụng văn bản mới. Ví dụ như tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân được quy định tại điều 113 trong đó quy định rằng là bộ luật hình sự năm 2015 phạt tù từ 5 năm đến 10 năm. nhưng bộ luật hình sự 1999 mức hình phạt chỉ từ 2 đến 7 năm. Như vậy trong trường hợp này chúng ta sẽ không được phép áp dụng bộ luật hình sự năm 2015 đối với những vụ việc đã xảy ra trước đó. Một vấn đề thứ hai khi chúng ta xem xét về hiệu lực của văn bản đó là hiệu lực theo không gian của văn bản. Hiệu lực theo không gian của văn bản chính là giới hạn tác động của văn bản trên phạm

31:58 vi lãnh thổ quốc gia, một địa phương hoặc một vùng nào đó. Có nghĩa rằng chúng ta xác định xem là văn bản này nó được áp dụng trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam hay nó chỉ được áp dụng trong một địa phương nào đó mà thôi. Vậy thì để xác định hiệu được theo không gian của văn bản chúng ta cũng có hai cách. Có điều khoản ghi rõ là áp dụng trong phạm vi nào. Ví dụ, Bộ Luật Hình sự năm 2015 quy định áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam. Ví dụ như thế. Còn trong trường hợp mà nếu văn bản không có điều khoản xác định rõ hiệu lực theo không gian của văn bản thì chúng ta phải dựa vào thầm quyền của cơ quan ban hành văn bản. Tuy nhiên nếu như dựa vào thầm quyền của cơ quan ban hành văn bản thì trong nhiều trường hợp chúng ta cũng không thể xác định được bởi vì về mặt nguyên

32:45 tắc văn bản của chính quyền Trung ương có hiệu lực trên phạm vi toàn bộ đánh thổ. Chính quyền địa phương chỉ có hiệu lực trong phạm vi địa giới hành chính. Nhưng khi chúng ta đọc vào văn bản đó thì chúng ta thấy rằng là cái văn bản này không phải được áp dụng trên toàn bộ đánh thổ mà nó chỉ có áp dụng ở một địa phương nào đó mà thôi. Ví dụ, Nghị định số 93 của Chính phủ quy định về phân cấp quản lý cho thành phố Hồ Chí Minh trong một số lĩnh vực. Vậy thì cái nghị định của Chính phủ nó chỉ áp dụng với thành phố Hồ Chí Minh mà nó không áp dụng đối với các tỉnh thành khác. Vì vậy trong trường hợp này, phải dựa vào nội dung tính chất của văn bản để xác định. Như vậy giữa chính quyền Trung ương, văn bản của Trung ương và văn bản của chính quyền địa phương nó cũng có sự khác nhau. Một vấn đề thứ 3 là khi xác định hiệu lực của văn bản để chính là xác

33:30 định hiệu lực theo đối tượng tác động của văn bản tức là chúng ta xác định xem là văn bản này được áp dụng đối với chủ thể nào cá nhân là tổ chức nào họ sẽ chịu sự tác động của văn bản ví dụ áp dụng đối với học sinh sinh viên ở khu vực miền núi Hải Đà hay áp dụng đối với toàn bộ sinh viên trên lãnh thổ Việt Nam hay áp dụng đối với nạn nhân chất độc mộc da cam hay chỉ áp dụng đối với những người làm việc trong lĩnh vực giáo dục mà thôi Nếu có điều khoản ghi rõ, chúng ta cứ theo văn bản đó áp dụng. Nhưng nếu không có điều khoản ghi rõ, thì trong trường hợp này, chúng ta cũng phải dựa trên nguyên tắc, đó là dựa vào thầm quyền của cơ quan ban hành văn bản. Và về mặt nguyên tắc, văn bản của cơ quan nhà nước ở Trung ương áp dụng đối với mọi chủ thể. Nhưng đối với văn

34:17 bản của chính quyền địa phương, chỉ áp dụng đối với các đối tượng trên địa bản đó mà thôi. Nhưng mà thực tế cũng sẽ thấy rằng là Không hẳn là văn bản của chính quyền Trung ương thì áp dụng đối với mọi đối tượng và văn bản của địa phương thì áp dụng đối với toàn bộ chủ thể trong phạm vi cái địa phương đó. Mà khi chúng ta đọc văn bản thì chúng ta thấy rằng văn bản đó chỉ quy định đối với một số đối tượng nhất định mà thôi. Ví dụ thành phố Hồ Chí Minh xảy ra dịch cúm gia cầm, mức độ thiệt hại ở các quận huyện là khác nhau. Vì thế Ủy ban thành phố quyết định hỗ trợ cho bà con nông dân ở huyện Cần Giờ, ở huyện Củ Chi, số tiền tiêu hủy. ra cầm ví dụ 10.000 đồng trên một con ra cầm bị tiêu hủy nhưng ở những quận huyện khác thì không có cái mức độ thiệt hại như thế và vì thế họ sẽ không được gì được hỗ trợ như vậy dựa vào nội dung

35:05 tính chất của văn bản để chúng ta xác định rằng đối tượng nào sẽ được áp dụng văn bản này à Ví dụ như này thông tư số 32 của bộ lao động thương binh xã hội quy định về bảo hiểm thất nghiệp chúng ta đọc cái nội dung văn cái văn bản này thì chúng ta tưởng rằng là nó được áp dụng đối với mọi đối tượng khi mà họ bảo hiểm thất nghiệp nhưng khi chúng ta đọc vào văn bản thì chúng ta thấy rằng là là nó sẽ loại trừ một số những trường hợp không được áp dụng Ví dụ đối với người đang hưởng lương hưu hàng tháng trợ cấp mất sức lao động hàng tháng họ ký hợp đồng lao động thì trong trường hợp này họ không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp như vậy chúng ta căn cứ và nội dung tính chất của văn bản để chúng ta xác định rõ là đối tượng được áp dụng là ai nha một cái vấn đề thứ ba mà chúng ta cũng cần phải xem Đó là gì? Khi mà nói

35:54 tới các bộ phận hợp thành của hệ thống pháp luật chúng ta chỉ ra là hệ thống pháp luật có 2 bộ phận hợp thành là hệ thống cấu trúc của pháp luật và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Vậy thì giữa hệ thống cấu trúc của pháp luật và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nó có mối quan hệ hay mối liên hệ với nhau như thế nào? Hệ thống cấu trúc của pháp luật nó chính là cơ sở cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản. Như vậy, nói tới hệ thống cấu trúc là người ta nói tới cái kết cấu bên trong nội tại của hệ thống pháp luật. Người ta chỉ ra rằng là cái hệ thống đó nó được hợp thành bởi những yếu tố nào, những bộ phận nào. Giống như chuyện xây dựng một ngôi nhà thôi. Chúng ta sử dụng những nguyên vật liệu nào sắt, thép, xi, mang, gạch, cái nào nhiều, cái nào ít. Nhưng khi nó biểu

36:39 hiện ra bên ngoài, chúng ta có thể nhận diện được thì nó là gì? Nó là hoàn toàn là gì? Có thể biểu hiện khác nhau. Và đấy chính là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. chính là cái phương tiện biểu hiện ra bên ngoài của hệ thống cấu trúc bên trong. Vì vậy, mối quan hệ giữa hệ thống cấu trúc và hệ thống văn bản chính là mối quan hệ biểu hiện giữa nội dung và hình thức chúng ta có thể tạo hiểu lệch như thế. Như vậy, tóm lại là gì? Khi nghiên cứu về hệ thống pháp luật, chúng ta sẽ phải chỉ ra rất nhiều vấn đề. Hệ thống cấu trúc, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Và đối với hệ thống cấu trúc thì nó bao gồm rất nhiều các yếu tố, các bộ phận từ ngành luật chế định pháp luật, quy phạm pháp luật, Và trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thì nó cũng luôn tồn tại trong một trật tự thứ bậc về hiệu lực pháp lý. Văn bản có giá trị pháp lý cao nhất

37:28 là hiến pháp. Dưới đó là các bộ luật luật và dưới đó là các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật. Nó tồn tại trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau trật tự hiệu lực và thống nhất về mặt nội dung. Như vậy đến đây cô đã giới thiệu cho em một cái phần tiếp theo của bài hệ thống pháp luật giới thiệu về hoàn chỉnh về khái niệm hệ thống pháp luật là gì và các bộ phận hợp thành của nó. Bộ học của chúng ta sẽ dừng lại ở đây. Cảm ơn các em.

Share

YouTube Video Summaries