0:00 [âm nhạc] kin [âm nhạc] chào các bạn. Buổi học ngày hôm nay chúng ta sẽ tiếp tục à à xem xét nghiên cứu một phần cuối cùng à trong bài thứ ba của chương trình môn học à là phần về hệ thống hóa pháp luật. Ờ trong hệ thống pháp luật của một nhà nước thì nó bao gồm rất là nhiều những cái bộ phận hợp thành và nó được biểu hiện ra bên ngoài
0:47 dưới những dạng thức khác nhau mà chúng ta có thể nhận diện được. Vậy thì làm thế nào để có thể có được một hệ thống pháp luật toàn diện? Làm thế nào để có một hệ thống pháp luật phù hợp? thì nó đòi hỏi là không chỉ là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi ban hành ra pháp luật cần phải chú ý mà trong quá trình áp dụng thực thi, những cái người thực thi pháp luật đó cũng cần phải có những cái sự chú ý hay nói cách khác là cần phải có những cái biện pháp để làm thế nào đó để đưa pháp luật vào đời sống một cách có hiệu quả nhất. Nó trong cái phần tiếp theo của bài học này, chúng ta sẽ nghiên cứu ba cái vấn đề cơ bản sau đây. Thứ nhất là khái niệm hệ thống hóa pháp luật là gì? Các hình thức hệ thống hóa pháp luật cũng như quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề pháp điển hóa
1:34 các quy phạm pháp luật. Vậy thì phần đầu tiên là hệ thống hóa pháp luật khái niệm. Đây là hoạt động sắp xếp, chỉnh lý, sửa đổi, bổ sung nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật nhằm tăng cường tính hệ thống của hệ thống pháp luật. Như vậy nói tới hoạt động hệ thống hóa là nói tới cái hoạt động sắp xếp, chỉnh lý, bổ sung nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật để nhằm tăng cường cái tính hệ thống hay nói cách khác để đảm bảo cho cái tính hệ thống của pháp luật ở mức độ cao nhất. Vậy thì cái việc mà chúng ta nghiên cứu hay là xem xét về cái hoạt động hệ thống hóa pháp luật nó có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nó giúp cho chúng ta có thể đánh giá được một cách tổng quan về hệ thống pháp luật. Hiện tại hệ thống pháp đó đầy
2:20 đủ chưa hay nó thiếu, nó hồng ở chỗ nào à nó mâu thuẫn, nó trồng chéo ở chỗ nào để từ đó chúng ta có thể phát hiện ra và đưa ra những cái biện pháp khắc phục để hoàn thiện nó. Và đồng thời thông qua cái hoạt động hệ thống hóa pháp luật này, nó cũng giúp cho cái việc là nâng cao ý thức pháp luật của cả cái người có thẩm quyền xây dựng pháp luật và cả những người áp dụng pháp luật cũng như là gì? Thực hiện pháp luật. Vậy thì mục đích cơ bản của cái hoạt động hệ thống hóa pháp luật nó sẽ nhằm tạo ra một cái hệ thống pháp luật, một cái hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cân đối hoàn chỉnh để đảm bảo rằng không có một cái lĩnh vực xã hội nào, một quan hệ xã hội nào cần thiết, cơ bản mà lại không có luật để điều chỉnh và cũng không có một
3:06 cái lĩnh vực nào mà nó không cần thiết nhưng lại có luật để điều chỉnh. Bởi vì điều đó nó sẽ tạo ra cái sự không cân đối trong một hệ thống pháp luật. Nó cái thứ hai là nó có thể giúp cho cái việc khắc phục được những cái lỗ hổng, những cái mâu thuẫn trong bản thân cái hệ thống pháp luật đó. Và đồng thời nó có thể làm cho cái nội dung của pháp luật đó trở nên phù hợp với đời sống xã hội hơn cũng như hình thức nó trở nên rõ ràng, dễ hiểu và dễ áp dụng. Vậy thì về mặt thực tế nếu như ta dựa vào cái hiệu quả, cái kết quả cũng như là về chủ thể của cái hoạt động hệ thống hóa pháp luật thì trong thực tế có hai cái hình thức hệ thống hóa pháp luật sau đây. Thứ nhất là tập hợp hóa và thứ hai là pháp điển hóa. Với cái hình thức hệ thống hóa pháp
3:53 luật đầu tiên đó là tập hợp hóa. Tập hợp hóa là gì? Đấy chính là việc sắp xếp các quy phạm pháp luật hoặc các văn bản quy phạm pháp luật riêng biệt. theo một trình tự nhất định. Tức là chúng ta sẽ sắp xếp các văn bản quy phạm pháp luật đã có hay là các quy phạm pháp luật đã có theo một cái trình tự nhất định. Trình tự đây chúng ta hiểu rằng là nó dựa trên những tiêu chí nó có thể theo chủ thể, nó có thể là theo thời gian và nó cũng có thể là theo theo nội dung. Và cái việc sắp xếp này nó không làm thay đổi nội dung của văn bản, nó không làm bổ sung những quy định mới mà chỉ nhằm mục đích là loại bỏ đi những quy phạm pháp luật nào nó đã hết hiệu lực mà thôi. Và nếu như chúng ta xem xét về mặt chủ thể để thực hiện hoạt động tập hợp hóa, chúng ta sẽ thấy rằng là cái hoạt
4:40 động này nó có thể được tiến hành bởi tất cả mọi người, tất cả ai có nhu cầu thì đều có thể tiến hành hoạt động tập hợp hóa. đối với những văn bản pháp luật hoặc những quy phạm pháp luật mà mình có quan tâm. Ví dụ như các bạn à chúng ta chưa lập gia đình, ví dụ sắp tới nếu như các bạn muốn lập gia đình và các bạn muốn biết được rằng khi mình lập gia đình thì giữa vợ và chồng, cha mẹ và con cái có những quyền và nghĩa vụ gì chẳng hạn thì chúng ta có thể tập hợp tất cả những cái văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước quy định về lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Chúng ta đóng thành một tập và chúng ta sử dụng. Vậy thì đấy chính là hoạt động gì? tập hợp hóa hoặc một người nào đó họ làm việc trong cái lĩnh vực về công chứng chứng thực ở ủy ban nhân dân và họ sẽ tiến hành là tập hợp
5:28 sắp xếp tất cả những văn bản liên quan đến công chứng chứng thực để họ sử dụng thì đấy chính là hoạt động tập hợp hóa. Ví dụ như là sau này khi mà các bạn học đến những cái môn học tiếp theo trong chương trình đào tạo cử nhân luật ví dụ như môn luật hành chính hay là môn luật hiến pháp chẳng hạn. Vậy thì khi mà học đến vấn đề về tổ chức bộ máy nhà nước thì có rất là nhiều những văn bản pháp luật của nhà nước quy định về vấn đề này từ luật tổ chức quốc hội, luật tổ chức chính phủ, luật bầu cửa quốc hội, luật tổ chức chính quyền địa phương, luật tổ chức tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân. Vậy thì để nghiên cứu về cái tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, chúng ta đòi hỏi phải có rất nhiều văn bản. Vậy thì để có thể thuận lợi cho cái việc học, chúng ta có thể tập hợp những văn bản quy định về tổ chức bộ máy nhà nước, chúng ta đóng thành từng một tập
6:14 và chúng ta sử dụng. Và đấy chính là hoạt động tập hợp hóa. Vậy thì về mặt nội dung khi chúng ta tiến hành tập hợp những cái văn bản hoặc những quy phạm pháp luật đã có, chúng ta có quyền sửa đổi nó không? hay là chúng ta chỉ có quyền sắp xếp văn bản theo những tiêu chí nhất định, theo thời gian, theo chủ thể ban hành hoặc là theo nội dung mà chúng ta quan tâm. Và vì vậy về mặt tính chất nó không làm thay đổi nội dung của văn bản. Chúng ta ví dụ ta đọc một văn bản thấy rằng là à cái vấn cái vấn đề này mình không đồng ý, cái vấn đề kia mình thấy rằng nó không hợp lý. Vậy chúng ta có quyền sửa đổi hay không? Ví dụ như nhà nước trong luật hôn nhân và gia đình, nhà nước quy định rằng là nam phải đủ 20 tuổi, nữ phải đủ 18 tuổi mới có quyền kết hôn. Nhưng mà bản thân chúng ta thấy rằng là à 18 tuổi thì muộn
7:00 quá, 20 tuổi thì muộn quá, vì thế ta sửa luôn xuống thành 16 tuổi, 17 tuổi được không? Trong hợp làm này gì? Không được phép. Như vậy chúng ta chỉ là gì? Loại bỏ đi những cái đã hết hiệu lực mà chúng ta không có quyền thêm, không có quyền bớt vào những cái văn bản đó. Và vì vậy kết quả là gì? Nó chỉ là một tập hợp văn bản mới được sắp xếp theo một tiêu chí nhất định mà thôi. Ví dụ liên quan đến lĩnh vực hình sự, chúng ta có bộ luật hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành. À các bạn có thể tập hợp tất cả những văn bản liên quan đến lĩnh vực hình sự chúng ta đóng thành một tập và chúng ta sử dụng. Vậy thì nếu như đối với hình thức tập hợp hóa nó có thể thực hiện được thực hiện bởi tất cả các cá nhân, tổ chức có nhu cầu có nhu cầu thì trong thực tế cũng có một hình thức hệ
7:47 thống hóa pháp luật thứ hai đó là pháp điển hóa. Vậy thì đối với hình thức pháp điển hóa này thì nó không phải là do tất cả các chủ thể có nhu cầu thực hiện mà nó chỉ được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. à họ tập hợp các văn bản đã có theo một trình tự nhất định mà thôi. Và thông thường là những cơ quan nhà nước nào có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì họ cũng có thể có quyền gì? tiến hành pháp điển hóa. Và cái hoạt động pháp điển hóa này nó nhằm loại bỏ những quy phạm pháp luật đã lỗi thời mâu thuẫn à đặt ra những quy phạm pháp luật mới khắc phục các chỗ trống nếu như phát hiện và đồng thời là nâng cao hiệu lực pháp lý của chúng tức là của cái văn bản là mà tiến hành pháp điển hóa. Vậy thì nếu như
8:34 chúng ta để phân biệt với cái hình thức tập hợp hóa thì chúng ta có thể dựa vào một số những tiêu chí ví dụ về chủ thể tiến hành tập hợp hóa là tất cả mọi người có nhu cầu thì pháp điển hóa chỉ được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cái thứ hai là về mặt nội dung ngoài cái việc là sắp xếp giống như tập hợp hóa thì Pháp Điển hóa còn có quyền loại bỏ đi những quy phạm đã lỗi thời mâu thuẫn, đồng thời có quyền bổ sung vào thêm những quy phạm mới. Nếu như thế rằng là gì? Nó trống. Như vậy về nội dung có thể thực hiện những cái hoạt động như thế. Nhưng điều đó nó dẫn tới là gì? Cái tính chất là thy đổi nội dung. Khi chúng ta bổ sung, chúng ta loại bỏ thì cái văn bản đó nó đã có sự
9:20 thay đổi rồi. Nội dung có sự thay đổi. Nó có thể là có thể tăng lên và nó cũng có thể giảm đi về mặt nội dung. Và vì vậy kết quả là thường là một văn bản mới có giá trị pháp lý cao hơn. Ví dụ trong lĩnh vực về xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam chúng ta có rất nhiều văn bản được ban hành vào những thời kỳ lịch sử khác nhau. Ví dụ chúng ta có pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1996. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi bổ sung vào năm 2002 rồi pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2008 nhưng đến năm 2012 thông qua hoạt động pháp điển hóa của Quốc hội, chúng ta đã có luật xử lý vi phạm hành chính mới à có hiệu lực vào ngày mùng 01 tháng năm 2013. Như vậy luật xử lý vi phạm hành
10:06 chính là kết quả của hoạt động pháp điển hóa của Quốc hội. Vậy thì trên thế giới khi mà nói tới pháp điển hóa hay là tập hợp hóa thì người ta đề cập tới những cái nội dung cơ bản như thế. Vậy thì quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay về pháp điển hóa như thế nào? Hiện nay pháp luật thực định chúng ta có hai cái văn bản quy định về vấn đề này. Thứ nhất đó là pháp lệnh pháp điển hóa hệ thống quy phạm pháp luật được Ủy ban thưởng vụ Quốc hội thông qua vào ngày 16 tháng 04 năm 2012 và phát sinh hiệu lực vào ngày mùng 01 tháng năm 2013. Và sau đó là gì ạ? Chính phủ đã ban hành ra một cái nghị định để hướng dẫn thi hành cái pháp lệnh này. Đó chính là nghị định số 63 năm
10:51 2013 quy định chi tiết pháp lệnh pháp điển hóa hệ thống quy phạm pháp luật có hiệu lực vào ngày 15 tháng năm 2013. À vậy thì trong quy định của pháp lệnh pháp điển hóa cũng như nghị định hướng dẫn thi hành tại điều một của pháp lệnh đã chỉ rõ pháp pháp điển là việc cơ quan nhà nước ra soát tập hợp sắp xếp các quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực trong các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành trừ hiến pháp để xây dựng bộ pháp điển. Vậy thì nguyên tắc khi mà tiến hành pháp điển là phải tuân thủ những nguyên tắc nào? Thứ nhất là các cơ quan tiến hành pháp điển không được làm thay đổi quy phạm pháp luật. À thứ hai là phải sắp
11:38 xếp theo một trật tự thứ bậc về hiệu lực pháp lý từ cao súng thấp. Thứ ba là có quyền cập nhật thêm những quy phạm pháp luật mới và loại bỏ những quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực. À và đương nhiên trong quá trình tiến hành pháp điển phải tuân thủ đầy đủ về thẩm quyền, về trình tự, về thủ tục thực hiện pháp điển. Cơ quan nhà nước nào có quyền pháp điển. Khi tiến hành pháp điển thì phải trải qua những giai đoạn, những bước nào các cơ quan này đều phải tuân thủ. Vậy thì về mặt nguyên tắc thì thẩm quyền pháp điển hóa ở Việt Nam hiện nay được quy định như sau. Ví dụ bộ các cơ quan ngang bộ có quyền phát điển đối với những văn bản do mình ban hành. Tòa án dân, Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm toán nhà nước có quyền phát điển đối với những
12:25 văn bản do mình ban hành. Nhưng đối với văn bản của Quốc hội hay là văn bản của Ủy ban thưởng vụ Quốc hội thì sẽ do văn phòng Quốc hội tiến hành pháp điển và đối với văn phòng Chủ tịch nước sẽ tiến hành phát điển đối với những văn bản do Chủ tịch nước ban hành mà nó không thuộc thẩm quyền của Bộ, của tòa án hay là của Viện kiểm sát hoặc là của kiểm toán nhà nước. Vậy thì tại sao người ta lại đặt ra cái hoạt động pháp điển các quy phạm pháp luật? Mục đích ở đây là nhằm xây dựng một hệ thống pháp luật minh bạch, dễ tiếp cận nạ để nhằm tập hợp lại, để cho có thể là tất cả mọi người có nhu cầu đều có khả năng tiếp cận nó và cái hệ thống pháp luật đó phải được công khai. Và điều này cũng nhằm mục đích là xóa bỏ cái chín không trong hệ thống
13:11 pháp luật mà chúng ta thường đề cập từ trước tới nay. Đó là gì? Một hệ thống pháp luật không đầy đủ. Thứ hai là một hệ thống pháp luật không rõ ràng và thứ ba là nó không cụ thể và tiếp theo là nó không tương thích. Cái sự không tương thích là gì? Sự tương thích giữa văn bản pháp luật này với văn bản pháp luật kia, giữa hệ thống giữa ngành luật này với lại ngành luật kia và đặc biệt là sự không minh bạch. Một hệ thống pháp luật không minh bạch nó sẽ dẫn tới rất nhiều những cái hệ lụy hệ lụy cho đời sống xã hội. Ví dụ cái thông tin về một cái dự án nào đó, ví dụ trước đây nó là một bãi, nó là một khu vực đầm lầy chẳng hạn, nhưng sau đó người ta quy hoạch nó thành một cái công viên hay là một cái khu phức hợp thương mại chẳng hạn. Và
13:57 nếu như cái người biết thông tin thì họ có thể thu được những cái lợi ích nhất định. Từ cái việc là biết thông tin họ có thể là mua gom gom đất trước. Nhưng mà ngược lại những cái người mà không biết thông tin thì có thể khi mà có người đến mua trước đây thì chẳng có ai hỏi cả. Nhưng bây giờ có người đến mua và trả giá rẻ thì họ cũng bán. Nhưng mà sau đó một thời gian sau khi quy hoạch thì cái giá đất nó đã tăng lên vùn vụt rồi đúng không ạ? Vì vậy đây tất cả các quy định của nhà nước đòi hỏi là phải có cái sự minh bạch. Và một vấn đề nữa đó là sự không liệu trước. À cái lậ trước pháp luật ngoài cái việc là nó điều chỉnh quan hệ xã hội thế thì nó phải có mang tính chất dự báo ha dự báo một vấn đề nữa đó là tính không hợp lý hay tính không hiệu quả. Khi đánh giá về hệ thống pháp luật Việt Nam thì có quan điểm đó rằng là Việt Nam
14:44 là một trong những quốc gia mà có cái trình độ kỹ thuật xây dựng luật pháp rất là tốt, ban hành luật rất tốt nhưng mà cái khả năng thực thi tức là đưa pháp luật vào trong đời sống ấ áp dụng nó thì lại không hiệu quả. Và điều này đương nhiên nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và trong đó có cả yếu tố về về mặt con người. Và một vấn đề nữa đó chính là vấn đề không có hiệu. Vậy thì mục đích của pháp điển hóa nó nhằm rất là nhiều những cái mục đích như thế từ không để đủ, không rõ ràng, không tương thích, không phù hợp. À vân vân trên thế giới hiện nay khi mà đề cập tới cái hoạt động pháp điển hóa thì người ta thường đề cập tới hai cái hình thức. Thứ nhất là pháp điển hóa về mặt hình thức và thứ hai là pháp điển về mặt nội dung. Vậy thì cái kết quả của cái hoạt động
15:30 pháp điển hóa về mặt nội dung hai hình thức là nó khác nhau chứ không phải là giống nhau. Pháp điển hóa về mặt nội dung thì kết quả của nó là một bộ luật. Còn pháp điển hóa về mặt hình thức thì nó tạo ra một khung pháp lý về pháp điển. Vậy thì khi mà tiến hành pháp điển hóa quy phạm pháp luật hay là văn bản quy phạm pháp luật thì nó sẽ có cái giá trị như thế nào? ạ. Thứ nhất ấy là khi pháp điển về mặt hình thức, ở đây chúng ta hiểu rằng là pháp điển về mặt hình thức nó sẽ không làm thay đổi nội dung của quy phạm pháp luật được pháp điển. Và khi mà khi mà nói tới pháp điển thì người ta nói pháp điển về mặt nội dung và pháp điển về mặt hình thức. Nhưng ở Việt Nam chúng ta hiện nay khi nói tới pháp điển người ta chỉ nói tới pháp điển về mặt hình thức thôi chứ chúng ta chưa nói đến vấn đề pháp điển về mặt nội
16:16 dung. Và muốn phát điển về mặt nội dung thì nó đòi hỏi là phải phát triển đến ở một cái trình độ nhất định nào đó. Vậy thì khi mà chúng ta tiến hành phát điển về mặt hình thức thì nó sẽ không làm thay đổi nội dung của quy phạm được phát điển. Và cái việc mà pháp điển đó, cái sản phẩm pháp điển đó nó chỉ được sử dụng để tra cứu trong việc áp dụng và thực hiện pháp luật à mà thôi. Có nghĩa rằng là gì? Chúng ta sẽ không quy định về cái hiệu lực của Bộ Pháp điển. Và về mặt thực tế theo quy định của pháp luật thì Bộ Tư pháp là cái cơ quan được giao đầu mối để tiến hành pháp điển hóa, quy phạm pháp luật. Ví dụ như từ trước đến nay, trong mỗi một lĩnh vực của đời sống xã hội có văn bản pháp luật để điều chỉnh thì nó có thể đồng thời bị điều chỉnh bởi rất nhiều các văn bản khác nhau từ luật cho đến nghị định cho đến
17:02 thông tư. Và nếu như không phải là người theo dõi một cách thường xuyên thì khi đề cập liên quan đến lĩnh vực đó, chúng ta sẽ không thể biết được rằng à với cái lĩnh vực này thì nó sẽ có những văn bản nào để điều chỉnh và những văn bản đó có thể được nhà nước sửa đổi bổ sung chưa nếu như chúng ta không cập nhật được. Vậy thì trong trường hợp này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành pháp điển, họ sẽ tập hợp tất cả những văn bản quy định về một lĩnh vực nào đó trong một cái file điện tử và Bộ Tư pháp sẽ có trách nhiệm là đưa cái file đó lên cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp. Và cái người có nhu cầu áp dụng quan tâm họ chỉ cần vào cái cổng thông tin điện tử đó và họ sẽ biết được rằng là à trong lĩnh vực này thì có những văn bản nào của nhà
17:49 nước đã quy định về vấn đề đó và nó được sửa đổi bổ sung như thế nào và Bộ Tư Pháp sẽ cập nhật luôn những cái sửa đổi bổ sung đó vào trong cái văn bản quy phạm pháp luật nạ. Và điều này nó sẽ giúp ích là gì? nó chống lại cái hiện tượng lợi dụng sự dườm già của pháp luật để hợp lý hóa pháp luật. Ví dụ khi các bạn có thể đến một cái cơ quan nhà nước nào đó và lợi dụng cái sự hiểu không hiểu biết của người dân chẳng hạn, các công chức, viên chức có thể gây ra cái sự phiền hà. Họ có thể rằng là gì? Đưa ra yêu cầu này, đưa ra yêu cầu kia. Ví dụ như thế và làm cho người dân cảm thấy rằng là mình thực sự trong trường hợp này không hiểu là như thế nào. Và điều đó nó có thể làm phát sinh cái sự tiêu cực. Và hơn nữa là gì? Là trong cái quá trình
18:35 áp dụng cái văn cái bộ pháp điển này thì cái bộ pháp điển này nó sẽ không có giá trị pháp lý để thay thế văn bản gốc. Ví dụ khi mà các bạn áp dụng pháp luật cho một chủ thể nào đó, ví dụ là ở nhân viên của Ủy ban nhân dân hay là thẩm phán của tòa án đi. Khi chúng ta xét xử một cái vụ án nào đó thì cái căn cứ pháp lý mà thẩm phán sử dụng ở đây chính là cái ví dụ trong lĩnh vực hình sự đấy chính là bộ luật hình sự và đây chính là cái bản in ta gọi là bản có giấy trắng mực đen, có dấu đỏ của nhà nước. Đấy. Đạ. Vậy thì trong trường hợp mà cái bộ luật hình sự này đương nhiên thì nó cũng được đưa lên để trong cái cổng thông tin điện tử của bộ tư pháp. Và khi mà tôi lấy cái bộ luật hình sự được trên cái cổng thông tin của Bộ Tư pháp xuống để áp dụng thì
19:22 tôi phát hiện ra rằng là giữa cái văn bản file điện tử đó và cái văn bản gốc do nhà nước phát hành ấy nó có sự khác nhau. À vậy thì trong trường hợp này sẽ giải quyết như thế nào? Và đương nhiên là chúng ta sẽ luôn luôn sử dụng cái văn bản gốc chứ không sử dụng cái cái file điện tử tức là cái cái bộ pháp điển. Vậy thì có nghĩa rằng là cái bộ pháp điển đó nó chỉ có giá trị tham khảo chứ nó không có gì nó không bắt buộc gì áp dụng. N một pháp điển đó muốn có giá trị pháp lý thì nó phải được xây dựng theo đúng trình tự thủ tục thầm quyền đã được quy định trong luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Ở đây cơ quan tiến hành phát điển chỉ là một cái thủ tục là tập hợp những văn bản đã có trong từng lĩnh
20:09 vực để nó mang tính chất tập trung mà thôi. Hạ. Vậy thì câu hỏi ra là nếu như giữa văn bản gốc và bộ pháp điển khác nhau thì chúng ta sẽ ưu tiên sử dụng văn bản nào? À câu trả lời rằng sẽ luôn luôn là văn bản gốc. Và nếu như cá nhân, tổ chức nào đó khi sử dụng Bộ Pháp Điển mà phát hiện ra được rằng là giữa Bộ Pháp Điển và văn bản gốc có sự khác nhau thì họ không có quyền sửa đổi mà họ chỉ có trách nhiệm, nghĩa vụ báo cho cơ quan nhà nước phụ trách cái vấn đề này để họ tiến hành đối chiếu và họ tiến hành sửa đổi chứ bản thân cái người áp dụng đó họ không có quyền tự sửa đổi cái bộ pháp điển này. ạ. Thì đấy là một số những lưu ý khi chúng ta
20:56 xem xét, nghiên cứu về cái quy định của pháp luật thực định Việt Nam về pháp điển hóa văn bản hay là pháp điển hóa quy phạm pháp luật. Nó như vậy đến đây cô đã giới thiệu với các bạn toàn bộ bốn tiết học của cái bài thứ ba trong học phần thứ hai của môn học lý luận về nhà nước và pháp luật. Đó, như vậy trong cái bài thứ ba này chúng ta đặc biệt cần phải lưu ý khi nghiên cứu về khái niệm hệ thống pháp luật và chúng ta phải làm sáng tỏ được cái tính hệ thống của hệ thống pháp luật. Một hệ thống pháp luật thì nó bao gồm rất nhiều các bộ phận hợp thành từ hệ thống cấu trúc nội tại bên trong của pháp luật cho đến hình thức biểu hiện ra bên ngoài. Và giữa nội dung
21:42 và hình thức của hệ thống pháp luật, chúng phải có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau. À lẫn nhau. Một hệ thống pháp luật hiệu quả, một hệ thống pháp luật đầy đủ, nó đòi hỏi phải đáp ứng được một số những tiêu chí nhất định đó là tính đồng bộ, tính phù hợp và nó phải thể hiện ở một cái trình độ kỹ thuật lập pháp cao. Và đồng thời để tăng cường được cái tính hệ thống của hệ thống pháp luật thì đòi hỏi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải tiến hành pháp điển hóa các văn bản quy phạm pháp luật này, các quy phạm pháp luật này để nhằm đảm bảo xây dựng được một hệ thống pháp luật hiệu quả và đầy đủ và xóa bỏ cái tình trạng không phù hợp, không minh bạch, không rõ ràng trong hệ thống pháp luật. Đó. Vậy thì một câu hỏi cuối cùng ở đây
22:28 cô muốn đưa ra là về mặt thực tế chúng ta thấy rằng là hàng năm hàng quý thì sở tư pháp của các tỉnh thành thường tiến hành một hoạt động rà soát ra soát văn bản ấy. Vậy thì cái hoạt động rà soát đó có phải là pháp điển hay không? Mời em. Thư cô thêm trong trường hợp trên thì là không phải là pháp hóa rồi. Cảm ơn em. Như vậy cái hoạt động già soát của Sở Tư pháp hàng năm đối với các văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân hay ủy ban nhân dân ban hành nó không phải là hoạt động pháp điển hóa theo đúng cái lý thuyết mà chúng ta nghiên cứu đúng không ạ? Pháp điển hóa là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Và cái hoạt động này nó làm thay đổi nội dung của văn bản. Nó đồng thời nâng cao hiệu lực pháp
23:14 lý của chúng. Nhưng sở tư pháp chỉ là một cái cơ quan có thể là gì? Cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân. Và vì thế họ chỉ có trách nhiệm là giúp cho Ủy ban nhân dân kiểm soát những cái văn bản mà họ mà cơ quan này đã ban hành rồi chứ Sở Tư pháp không có quyền bổ sung thêm hay bớt hay là sửa đổi hiệu lực của các văn bản này vì thế nó không phải là hoạt động pháp điển hóa. Tiết học ở buổi học của chúng ta sẽ dừng lại ở đây. Cảm ơn các em. [Vỗ tay]