0:00 [âm nhạc] Xin chào các bạn ở những cái tiết học trước chúng ta đã được nghiên cứu về những vấn đề cơ bản về pháp luật như về khái niệm bản chất chức năng hình thức của pháp luật pháp luật là một cái hiện tượng vô cùng phức tạp trong đời sống xã hội vì thế cũng có rất là nhiều những cái cách tiếp cận khác nhau về pháp luật
0:45 và vì vậy cũng có rất nhiều những cái định nghĩa khác nhau về pháp luật nhưng dù cho tiếp cận ở góc độ nào đi chăng nữa thì người ta cũng đều thừa nhận rằng nói tới pháp luật là người ta nói tới một hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc là do nhà nước thừa nhận thể hiện ý chí của nhà nước và nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội vậy thì trong đời sống xã hội các quan hệ xã hội rất là nhiều loại rất là phức tạp đa dạng nhưng chúng luôn luôn tồn tại trong một cái mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau trong một trình thể và Nhà nước đặt ra quy phạm pháp luật với tư cách là mô hình hành vi thể hiện ý chí của nhà nước để tác động vào các quan hệ xã hội đó Vì vậy các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành nó cũng tồn tại trong một cái trật tự và nó nó được tạo thành một cái hệ thống người
1:31 ta gọi đó là hệ thống pháp luật đó Vậy thì hệ thống pháp luật là gì Và nó được hợp thành bởi những yếu tố những bộ phận nào và dựa vào đâu để người ta có thể ban hành một cái hệ thống pháp luật đầy đủ toàn diện vân vân tất cả những vấn đề đó chúng ta sẽ được giải quyết trong một cái bài tiếp theo trong chương trình môn học đó là bài hệ thống pháp luật ạ thì cái mục đích đặt ra cho người học là đòi hỏi phải nắm được cái khái niệm hệ thống pháp luật l gì cấu trúc của hệ thống pháp luật hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật cũng như cái tiêu chí hay là cái tiêu chuẩn để đánh giá cái hệ thống pháp luật đó và vấn đề hệ thống hóa pháp luật như thế nào và đặc biệt là chúng ta phải làm sáng tỏ được cái tính hệ thống của hệ thống pháp luật nạ và để đạt được cái
2:18 mục đích đó thì yêu cầu đặt ra là người học phải nắm được những khái niệm các yếu tố hợp thành của hệ thống pháp luật mối quan hệ giữa các yếu tố này trong hệ thống pháp luật đó cũng như những cái vấn đề liên quan đến hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật các tiêu chí các tiêu chuẩn để đánh giá hệ thống pháp luật và vấn đề hệ thống hóa pháp luật Vậy thì về cơ bản á để có thể tìm hiểu được những cái vấn đề cốt lõi của hệ thống pháp luật có liên quan thì đòi hỏi là người học không chỉ là Nghe giảng trên lớp mà cần phải tham khảo thêm một số những cái giáo trình tài liệu khác và cái tài liệu chính thống mà các bạn có thể sử dụng trong quá trình tr học tập nghiên cứu tại trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh đấy chính là tập bài
3:03 giảng lý luận về pháp luật và ngoài ra các bạn có thể tham khảo thêm một số những cái giáo trình của các trường đào tạo luật khác ví dụ như Giáo trình Lý luận chung của trường đạo luật Hà Nội hay là Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội và Ngoài ra cũng có rất nhiều những cái nhà khoa học ở Việt Nam họ viết đề cập tới hệ thống pháp luật một cách hết sức là chuyên sâu ví dụ như là là quấn nhà nước và pháp luật của chúng ta trong sự nghiệp đổi mới của giáo sư Tiến sĩ khoa học đảo chí Úc Đây là những cái quấn mà viết về hệ thống pháp luật rất là toàn diện rất là đầy đủ và ngoài ra khi nghiên cứu về pháp luật thì chúng ta không nên bỏ qua một những cái tài liệu hết sức quan trọng Đấy chính là các tạp chí chuyên ngành ví dụ
3:49 như là tạp chí Khoa học pháp lý của trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh tạp chí nghiên cứu lập pháp hay là tạp chí nhà nước và pháp luật của Viện Nghiên cứu nhà nước và pháp luật vân vân và ngoài ra thì có có những cái tài liệu liên quan khác ha Vậy thì về cơ bản với bài học này chúng ta sẽ nghiên cứu Trong khoảng thời lượng là bốn tiết học và trong bốn tiết học đó chúng ta sẽ giải quyết bốn cái vấn đề cơ bản sau đây thứ nhất là khái niệm hệ thống pháp luật là gì Cái thứ hai là chỉ ra được các bộ phận hợp thành của hệ thống đó và thứ ba là chúng ta chỉ ra được các tiêu chuẩn để đánh giá mức độ hoàn thiện của một hệ thống pháp luật và thứ tư đấy chính là vấn vấn đề về hệ thống hóa pháp luật Vậy thì ở cái tiết học đầu tiên Hôm nay chúng ta sẽ trả lời được hai câu hỏi thứ
4:35 nhất là khái niệm hệ thống pháp luật hệ thống pháp luật là gì Và thứ hai là hệ thống cấu trúc của pháp luật Vậy thì đầu tiên chúng ta đi vào cái khái niệm hệ thống pháp luật nào vậy thì trước khi đi đến với cái khái niệm hệ thống pháp luật thì chúng ta phải làm sáng tỏ một vấn đề đó chính là hệ thống muốn giải quyết được vấn đề về hệ thống pháp luật thì chúng ta phải dựa trên cái nền tảng đấy là chúng ta phải hiểu được cái hệ thống là như thế nào Một hiện tượng một sự vật hiện tượng như thế nào thì được gọi là một hệ thống đ một cách khái quát chung ấy thì người ta giải thích rằng là gì Hệ thống nó là một chỉnh thể bao gồm nhiều ý tưởng nhiều vấn đề nhiều bộ phận và
5:20 giữa những cái ý tưởng những cái bộ phận này chúng có cái mối liên hệ chặt chẽ với nhau và được sắp xếp theo một trật tự khách quan logic và khoa học như như vậy để tạo thành một hệ thống thì nó đòi hỏi là phải thỏa mãn hai cái điều kiện bất kỳ một cái hệ thống nào cũng thế ha Thứ nhất là nó phải có nhiều yếu tố nhiều bộ phận hợp thành ví dụ âm thanh ánh sáng trong lớp học của chúng ta là một hệ thống nó là một hệ thống bởi vì nó bao gồm rất rất nhiều những cái yếu tố từ công tác dây dẫn bóng đèn vân vân Nhưng nếu những bộ phận này nó chỉ tồn tại một cách rời rạc thì nó cũng không thể tạo thành được một hệ thống mà nó đòi hỏi phải có một điều kiện trước thứ hai đó là giữa các yếu tố các bộ phận này chúng phải có mối liên hệ chặt chẽ với nhau điều đó có nghĩa rằng là cái vị
6:07 trí vai trò của mỗi một bộ phận trong hệ thống nó sẽ không giống nhau mỗi một bộ phận sẽ có một cái vai trò riêng mà nếu thiếu đi một bộ phận nào đó thì hoặc là hệ thống đó không thể hoạt động được hoặc là có thể hoạt động được nhưng không hoàn chỉnh ví dụ trong hệ thống chiếu sáng mà thiếu đi bóng đèn thì đương nhiên là hệ thống đó không thể hoạt động được đúng không ạ Nhưng nếu cũng cái hệ thống đó mà chúng ta chỉ thiếu đi công tắc Thôi thì hệ thống đó có thể hoạt động được không vẫn có thể hoạt động được đúng không ạ bằng cách chúng ta có thể là gì đấu nối một cách trực tiếp mà không nhất thiết phải qua gì qua một cái gọi là bộ phận công tác như vậy Ở đây khi chúng ta tiếp cận về khái niệm hệ thống pháp luật chúng ta cũng phải tiếp cận nó trên cơ sở là thỏa mãn hai cái điều kiện này của hệ thống
6:53 nà Vậy thì có nghĩa rằng là khi chúng ta xem xét về hệ thống chúng ta phải xem xét được những cái nội dung bên trong của nó cũng như đề cập đến cái hình thức biểu hiện ra bên ngoài của nó như thế nào vậy thì với cái cách tiếp cận như vậy chúng ta sẽ đi đến một cái khái niệm về hệ thống pháp luật như sau hệ thống pháp luật là gì là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau được phân định thành các chế định pháp luật các ngành luật và được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành theo thẩm quyền hình thức trình tự và thủ tục luật định như vậy Nói tới một hệ thống thì nó bao gồm rất rất nhiều các quy phạm pháp luật và các quy phạm pháp luật này nó tạo thành các cấp độ ở những cấp độ khác
7:39 nhau đó chính là chế định pháp luật các ngành luật và nó cũng có cái sự biểu hiện ra bên ngoài mà chúng ta có thể nhận diện được đấy chính là hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật ví dụ chúng ta có thể thấy rằng là gì trong hệ thống pháp luật Việt Nam chúng ta có bộ luật hình sự chúng ta có bộ luật dân sự chúng ta có bộ luật lao động vân vân đấy chính là biểu hiện ra bên ngoài của hệ thống pháp luật mà chúng ta có thể nhận diện được như vậy Tóm lại là gì khi chúng ta nghiên cứu về hệ thống pháp luật chúng ta sẽ phải trả lời được hai câu hỏi câu hỏi thứ nhất là cái hệ thống pháp luật đó nó được hợp thành bởi những cái bộ phận nào Ờ cơ bản thì người ta thống nhất với nhau rằng là gì Khi nói tới hệ thống pháp luật thì bao giờ nó cũng có các yếu tố hợp thành tạo thành cái cấu
8:26 trúc bên trong của nó Tức là hệ thống cấu trúc của pháp luật nhưng cái hệ thống cấu trúc này á Nó là một yếu tố thuộc về bên trong và vì thế muốn nhận diện thì nó phải biểu hiện ra bên ngoài bằng những cái hình thức cụ thể và đấy chính là hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật một vấn đề tiếp theo đó là hệ thống pháp luật nó được hợp thành bởi nhiều bộ phận nhiều yếu tố như thế vậy thì giữa những yếu tố những bộ phận này chúng phải có cái mối liên hệ với nhau nếu những bộ phận này Nó tồn tại một cách biệt lập với nhau thì nó sẽ không có ý nghĩa mà nó luôn luôn phải có cái sự liên hệ tác động Vậy thì cụ thể khi chúng ta nghiên cứu về cái mối liên hệ giữa các bộ phận hợp thành của hệ thống pháp luật chúng ta sẽ phải làm sáng tỏ những mối liên hệ nào những những cái quan hệ nào Cái thứ nhất ấy là chúng ta
9:11 phải làm sáng tỏ được cái mối liên hệ giữa hệ thống cấu trúc và hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật tức là làm sáng tỏ cái mối liên hệ giữa nội dung bên trong và biểu hiện ra bên ngoài và thứ hai là cho bản thân cái hệ thống cấu trúc của mỗi một ngành của một hệ thống pháp luật chúng ta cũng phải làm sáng tỏ được cái mối quan hệ giữa các ngành luật với nhau ngành luật dân sự có mối quan hệ như thế nào với ngành Luật đất đai à có mối quan hệ giữa ngành luật hình sự với ngành luật hành chính như thế nào rồi Trong bản thân mỗi một ngành luật thì nó lại có các chế định pháp luật Vậy thì mối quan hệ giữa các chế định với nhau như thế nào chế định về quyền sở hữu nó có liên quan gì đến chế định về hợp đồng hay không chế định về kết hôn nó có mối quan hệ gì với chế định về Ly hôn hay khôngạ và bản thân mỗi một cái
9:59 qu vi phạm pháp luật trong một chế định pháp luật một ngành luật một hệ thống pháp luật chúng cũng có cái mối quan hệ với nhau và một vấn đề thứ ba nữa là trong một hệ thống pháp luật nó được thể hiện ra bên ngoài bởi rất nhiều các văn bản quy phạm Vậy thì giữa những văn bản này chúng cũng có mối quan hệ với nhau như thế nào về thầm quyền về hình thức về tên gọi vân vân tất cả những vấn đề đó nó đều phải được giải quyết trong cái khái niệm về hệ thống pháp luật Vậy thì về cơ bản Chúng ta đã thống nhất với nhau ở vấn đề là khi chúng Chúng ta nghiên cứu về hệ thống pháp luật chúng ta phải chỉ ra được những bộ phận hợp thành của hệ thống đó và mối quan hệ giữa các yếu tố các bộ phận hợp thành này Vậy thì chúng ta thống nhất với nhau rằng là Khi nói tới hệ thống pháp luật nó sẽ có hai bộ phận hợp thành đó chính
10:46 là hệ thống cấu trúc và hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật và đây cũng là hai cái yếu tố cơ bản mà chúng ta sẽ nghiên cứu trong trong cái bài học này ạ Vậy thì thứ nhất đó là hệ thống cấu trúc của pháp luật hệ thống cấu trúc của pháp luật là gì Hệ thống cấu trúc của pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau được phân định thành các thành cấu trúc theo những cấp độ khác nhau quy phạm pháp luật chế định pháp luật và ngành luật như vậy Nói tới hệ thống pháp luật của một quốc gia thì nó bao gồm rất rất nhiều những cái quy phạm pháp luật nhưng các quy phạm pháp luật này nó không tồn tại một cách biệt lập đơn lẻ mà nó tạo thành một hệ thống và cái hệ thống này á nó lại chia thành các cấp độ
11:32 cấp độ từ cấp độ thấp đến cấp độ cao cụ thể là gì quy phạm pháp luật là cái tế bảo nhỏ nhất của hệ thống pháp luật rồi Ở một cấp độ cao hơn đấy chính là chế định pháp luật và các chế định pháp luật thì nó tạo thành cái người ta gọi là ngành luật và hợp các ngành luật này thì nó tạo thành hệ thống pháp luật của một quốc gia Vậy thì cụ thể là các bộ phận hợp thành của hệ thống cấu trúc Pháp luật nó sẽ bao gồm ba yếu tố sau đây thứ nhất nhất là quy phạm pháp luật Thứ hai là chế định pháp luật và thứ ba là ngành luật chúng ta sẽ lần lượt đi xem xét từng cái bộ phận hợp thành này bộ phận đầu tiên đó là quy phạm pháp luật quy phạm pháp luật chúng ta đã được nghiên cứu ở cái bài thứ hai trong chương trình môn học rồi Vậy thì quy phạm pháp luật
12:18 trong hệ thống pháp luật của một nhà nước nó được coi là cái thành tố nhỏ nhất của hệ thống pháp luật là đơn vị nhỏ nhất là tế bào của hệ thống pháp luật đó và nó là một thành phần của hệ thống pháp luật mà không thể gì à tách rời Vậy thì hệ thống trong một hệ thống pháp luật nó bao gồm rất nhiều các quy phạm Vậy thì cái quy phạm khi tồn tại trong hệ thống nó có cái tính chất như thế nào Cái thứ nhất ấy là nói tới quy phạm pháp luật thì bao giờ nó cũng có tính khái quát Thế thì tại sao pháp quy phạm pháp luật nó lại có tính khái quát nó có tính khái quát Bởi lẽ là gì quy phạm pháp luật nó là những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung nó được áp dụng cho rất nhiều chủ thể áp dụng cho tất cả các chủ thể khi họ rơi vào cái điều kiện hoàn cảnh mà Nhà nước đã dự liệu để điều
13:05 chỉnh đấy chính là cái bộ phận giả định mà các bạn đã nghiên cứu trong bài quy phạm pháp luật đúng không ạ và hơn nữa cái quy phạm pháp luật này á nó được áp dụng trong một phạm vi rộng lớn và trong một thời gian rất là dài à áp dụng đối với các chủ thể có liên quan về không gian về thời gian đ một cái văn bản quy phạm pháp luật trong đó chứa đựng các quy phạm hạng Pháp luật nó chỉ chấm dứt hiệu lực khi nó bị sửa đổi thay thế hoặc là gì bổ sung mà thôi Đạ Tuy nhiên bên cạnh cái tính khái quát đó thì với tư cách là cái mô hình hành vi mà nhà nước đặt ra để điều chỉnh tác động tới hành vi của con người thì quy phạm pháp luật còn có cái tính cụ thể tính cụ thể thể hiện ở chỗ là cái mô hình hành vi đó đã
13:51 được chuẩn mực hóa để điều chỉnh các quan hệ xã hội và nó xác định được các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể một vấn đề thứ ba nữa là bất kỳ một cái quy phạm pháp luật nào về mặt nguyên tắc nó cũng có cấu thúc xác định và nó bao gồm ba bộ phận đó là giả định quy định và chế tài và tất cả những điều này chúng ta đã được nghiên cứu ở những cái tiết học trước vậy thì quy phạm pháp luật Nó điều chỉnh các quan hệ xã hội cụ thể và trong đời sống xã hội thì có rất nhiều những cái quan hệ xã hội mà nó có cái gọi là tính chất nó gần nhau vậy thì người ta sẽ nhóm những cái quy phạm phát luật này vào để điều chỉnh một nhóm cái quan hệ xã hội có cùng tính chất và nó tạo thành một cái cấp độ thứ hai của hệ thống pháp luật đấy chính là chế định
14:37 pháp luật nà Vậy thì chế định pháp luật là gì nó bao gồm một nhóm các quy phạm pháp luật có đặc điểm chung cùng điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội có cùng tính chất và cái căn cứ nào để người ta phân định chế định chế định pháp luật đấy chính là tính chất của các quan hệ mà các quy phạm pháp luật điều chỉnh ạ Vậy thì cũng giống như quy phạm pháp luật chế định pháp luật nó cũng có những cái tính chất nhất định một chế định pháp luật nó có thể bao gồm rất nhiều các quy phạm pháp luật khác nhau cái tính chất thể hiện ở chỗ là gì là giữa các chế định trong từng ngành luật nó có mối quan hệ với nhau và trong từng chế định thì các quy phạm pháp luật cũng phải có cái mối quan hệ với nhau Chúng
15:22 không được trồng chéo không được mâu thuẫn Bởi vì nếu điều này xảy ra sẽ dẫn tới sự triệt tiêu hiệu lực của nhau cũng như là cái nó sẽ không thể đi vào đầy sống được ví dụ trong quy định tại điều 193 194 195 bộ luật hình sự năm 1999 quy định là khi xác định hình phạt trong những tội phạm liên quan đến ma tý thì đòi hỏi chỉ cần là gì xác định trọng lượng mà không cần phải xác định hàm lượng nhưng rồi thực tế có những cái vấn đề xảy ra khi mà xác định hình phạt là đối với những trường hợp mà buôn bán ma túy mà cái hàm lượng chất ma túy nó nhiều hơn thì không thể áp dụng một hình phạt mà nó giống như cái trường hợp là cái hàm lượng chất ma túy nó ít hơn Ví dụ như thế và vì vậy là nhà nước đã ban
16:10 hành một cái thông tư liên tịch số 17 quy định rằng là đối với những trường hợp những vụ án liên quan đến ma túy thì bắt buộc trong mọi trường hợp cần phải xác định loại hàm lượng Trọng lượng như vậy có nghĩa rằng là để xác định hình phạt thì cần Không chỉ là xác định trọng lượng mà cần phải xác định hàm lượng nữa và thực tế điều này nó gây ra cái sự khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng bởi vì không phải ở tỉnh thành nào ở địa phương nào cũng có khả năng giám định được hàm lượng chất ma túy và vì vậy nó dẫn tới là một cái sự là gọi gì là tồn động các vụ án nếu như không đưa về Hà Nội hoặc đưa về thành phố Hồ Chí Minh để mà giám định và chính vì vậy để tháo gỡ được cái vướng mắc này thì Nhà nước đã
16:56 ban hành một cái thông tư liên tịch số 08 sửa đổi Thông tư 17 đó quy định rằng là gì trong mọi trường hợp khi mà liên quan đến những vụ án về ma túy thì phải trưng cầu giám định loại và trọng lượng chất ma túy và bắt buộc phải trưng cầu giám định hàm lượng trong một số trường hợp nhất định và Nhà nước đưa ra bốn trường hợp mà thôi Vậy thì rõ ràng là nếu mà xét về mặt hiệu lực thì các bạn sẽ thấy rằng là trong bản thân cái chế định về tội phạm trong bộ luật hình sự thì cái điều 194 điều 100 193 195 bộ luật hình sự bao giờ nó cũng có giá trị hiệu lực pháp lý cao hơn là những cái văn bản hướng dẫn nó đó là thông tư vậy thì đây vấn đề là gì chúng ta phải đòi hỏi là giữa các văn bản đó chúng phải có cái cái sự thống nhất với nhau và thực
17:42 tế cũng chúng ta cũng thấy rằng là khi mà những cái chế định pháp luật mà Nó điều chỉnh những cái quan hệ xã hội có cùng tính chất như vậy à Thì các quan hệ xã hội này nó luôn luôn có cái sự đan xen lẫn nhau vì thế là nó sẽ có những cái đặc điểm chung vì thế người ta ta sẽ gom những cái chế định pháp luật nào mà nó có cùng tính chất tạo thành một cấp độ thứ ba của hệ thống pháp luật đấy chính là ngành luật ngành luật là hệ thống các quy phạm pháp luật để điều dùng để điều chỉnh các quan hệ xã hội cùng loại trong một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội ví dụ có thể trong lĩnh vực lao động sản xuất có thể trong cái lĩnh vực sinh hoạt của đời sống xã hội nhưng trong đời sống con người có rất nhiều các mối quan hệ cũng như các lĩnh vực xã hội khác nhau mỗi
18:28 một ngành luật điều chỉnh một cái lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội Vậy thì Câu hỏi đặt ra là dựa vào đâu để xác định tính chất nội dung phạm vi của mỗi một ngành luật dựa vàoo đâu chúng ta xác định rằng là à trong cái quan hệ giao dịch mua bán này nó là đối tượng điều chỉnh của ngành luật dân sự mà nó không phải là đối tượng điều chỉnh của ngành Luật thương mại Thực ra ranh giới giữa các ngành luật nó hết sức là mong manh Vậy thì vấn đề là dựa vào đâu Tôi có thể lấy một cái ví dụ như thế này trong thực tế có những nh trường hợp và có những cái chủ thể chưa đáp ứng được điều kiện của nhà nước nhưng họ vẫn tham gia vào một cái quan hệ xã hội nào đó ví dụ chưa đủ tuổi kết hôn mà đã lấy chồng lấy vợ Vậy thì con gái mà lấy chồng sớm thì sẽ bị xử lý như thế nào đây sẽ bị xử lý như
19:14 thế nào về mặt thực tế thì cái hành vi lấy vợ hoặc lấy chồng sớm ấ sẽ bị Nhà nước áp dụng những cái biện pháp xử lý như thế nào nghiên cứu pháp luật thực định chúng ta sẽ thấy rằng là là gì nếu như chưa đủ tuổi mà kết hôn là vi phạm quy định của luật hôn nhân và gia đình luật hôn nhân và gia đình quy định rằng là tảo hôn là việc nam và nữ kết hôn trước tuổi theo quy định của pháp luật tức là họ chưa đủ tuổi kết hôn mà theo quy định của pháp luật hôn nhân hiện hành là Nam chưa đủ 20 tuổi và nữ chưa đủ 18 tuổi như vậy hành vi đó là tả hôn nhưng đồng thời cái hành vi tảo hôn này nó cũng bị điều chỉnh bởi một ngành luật khác ví dụ như là ngành luật hành chính ngành Luật Hành chính quy định rằng là sẽ cảnh cáo hoặc
20:01 phạt tiền đối với những người mà lấy vợ lấy chồng chưa đủ độ tuổi điều này được quy định tại điều 47 nghị định 110 của chính phủ nhưng là cũng cái hành vi mà lấy vợ lấy chồng chưa đủ độ tuổi đó theo quy định của pháp luật thì nó lại cũng bị điều chỉnh bởi một ngành luật thứ ba đó chính là ngành luật hình sự à ngành luật hình sự ngành luật hịnh sự quyết định rằng là gì nếu một người đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì họ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự như vậy cùng một hành vi một cái lĩnh vực mà nó có thể đồng thời bị điều chỉnh bởi rất nhiều những cái ngành luật khác nhau tùy vào tính chất mức độ của hành vi vi phạm Vậy thì vấn đề đặt ra là căn cứ nào dựa vào đâu để
20:46 người ta phân định các ngành luật điều này rất là khó nhưng mà khó thì không có nghĩa là không có cơ sở không có căn cứ và trong khoa học pháp lý để phân định giữa các ngành luật người ta dựa vào hai cái căn cứ cơ bản sau đây đấy chính là đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh đối tượng điều chỉnh là gì đối tượng điều chỉnh của một ngành luật là những cái quan hệ xã hội cùng loại thuộc một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội mà cần có sự điều chỉnh bằng pháp luật có thể nói rằng đối tượng điều chỉnh nó chính là một trong những căn cứ quan trọng nhất để người ta phân định giữa các ngành luật và mỗi một ngành luật sẽ điều chỉnh một loại quan hệ xã hội đặc thù ví dụ như là ngành luật dân sự ngành luật hình sự ngành luật hôn nhân và gia đình ngành Luật Hành chính mỗi một ngành luật sẽ có một cái loại
21:33 quan hệ xã hội để mà điều chỉnh ví dụ Chúng ta có ngành Luật hiến pháp ngành Luật hiến pháp là ngành luật cơ bản trong hệ thống pháp luật của một nhà nước và với ngành luật này họ điều chỉnh ba cái nhóm quan hệ xã hội cơ bản sau đây thứ nhất là cái nhóm quan hệ xã hội liên quan đến việc xác lập cái chế độ của nhà nước cái thứ hai là nhóm quan hệ liên quan đến xác lậ cái địa vị pháp lý của cá nhân trong mối quan hệ với nhà nước và thứ ba là cái nhóm quan hệ xã hội liên quan đến việc tổ chức bộ máy nhà nước như thế nào đây là ba cái nhóm cơ bản ba nhóm quan hệ xã hội cơ bản mà nó thuộc đối tượng điều chỉnh của ngành Luật hiến pháp Tuy nhiên nếu như chúng ta chỉ dựa vào cái đối tượng điều chỉnh thì trong nhiều trường hợp nó cũng sẽ không thể gì không thể xác định được xác
22:18 định ví dụ cũng là cái hành vi mua bán cũng là cái hành vi trao đổi giao dịch dân sự với nhau nhưng mà rõ ràng là về mặt bản chất về mặt hình thức thì giống nhau nhưng về mặt bản chất nó lại gì lại không giống nhau vậy thì người ta cần phải có một cái căn cứ thứ hai có nghĩa rằng là khi chúng ta có đối tượng rồi thì Nhà nước sẽ sử dụng cách thức nào phương pháp nào để tác động vào cái quan hệ xã hội đó và cái cách thức tác động của Nhà nước vào cái quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của ngành Luật Người ta gọi đó là phương pháp điều chỉnh phương pháp điều chỉnh chính là cách thức tác động và quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của ngành Luật và mỗi một ngành luật sẽ có một phương pháp điều chỉnh đặc thủ và trong khoa học pháp lý thì có hai cái phương pháp chủ yếu sau đây thứ nhất là phương pháp
23:05 bình đẳng thỏa thuận Đây là cái phương pháp điều chỉnh mà trong đó nhà nước không can thiệp trực tiếp vào các quan hệ pháp luật mà chỉ định ra khuôn khổ và các bên trong quan hệ đó có thể tự do thỏa thuận với nhau Ví dụ như trong quan hệ pháp luật dân sự chẳng hạn ngành luật dân sự là một cái ngành luật mà sử dụng cái phương pháp bình Đặng một cách tuyệt đối từ giai đoạn đầu đến giai đoạn cuối các chủ thể tham gia và quan hệ pháp luật dân sự họ có thể thỏa thuận với nhau về quyền và nghĩ vụ và họ hoàn toàn Bỉ đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ ho là ngành luật hôn nhân gia đình hay ngành thương mại cũng là những ngành luật mà sử dụng cái phương pháp bình đẳng thỏa thuận thỏ Thuận nhưng mà trong
23:52 thực tế cuộc sống các bạn sẽ thấy rằng là có những cái quan hệ chúng ta tham gia vào chúng ta có thể thỏa thuận với người tham gia cùng với chúng ta nhưng có những cái quan hệ xã hội mà bản thân chúng ta có thể chúng ta không muốn nhưng chúng ta cũng buộc phải tham tham gia vào ví dụ như các bạn vượt đèn đỏ Các bạn có muốn bị xử phạt không khi các bạn thực hiện một hành vi gây thương tếch cho người khác Các bạn có muốn bị Nhà nước áp dụng một hình phạt nào hay không thì câu trả lời rằng là không đúng không ạ chúng ta hoàn toàn không muốn điều đó dù chúng ta đã thực hiện một hành vi không hợp pháp không đúng nhưng trong trường hợp này chúng ta cũng phải buộc phải tham gia và để hình thành đữ cái quan hệ đó nhà nước sử dụng một cái phương pháp người ta gọi là phương pháp mệnh lệnh quyển Uy hay là phương pháp quyền uy phục tùng Đây là cái phương
24:39 pháp mà một bên trong quan hệ pháp luật có quyền ra mạnh lệnh còn bên kia phải có nghĩa vụ phục tùng mà một bên trong quan hệ pháp luật này bao giờ cũng là nhà nước và đây là phương pháp đặc thù của ngành luật hình sự hay là ngành Luật gì ngành Luật Hành chính đúng không ạ Nhà nước có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước khi chủ thể gì thực hiện một hành vi không đúng không đầy đủ với yêu cầu của gì của nhà nước Vậy thì một câu hỏi đặt ra là chúng ta có hai cái phương pháp cơ bản là phương pháp bình đẳng thỏa thuận và phương pháp quyển Uy phục tùng thực tế có một ngành luật nào mà có sự kết hợp cả hai phương pháp điều chỉnh này hay không Tức là vừa có phương pháp bình đẳng thỏa thuận nhưng đồng thời cũng áp dụng luôn phương pháp quyền uy phục tù có hay không về
25:27 mặt thực tế chúng ta sẽ rằng là gì sẽ có những cái ngành luật như thế Ví dụ như ngành Luật lao động chẳng hạn Nà ở giai đoạn đầu tiên người sử dụng lao động và người lao động có quyển tự do thỏa thuận với nhau về công việc về tiền lương về chế độ đúng không ạ nhưng khi người lao động đã được nhận vào công ty xí nghiệp để làm việc thì họ phải chấp nhận sự điều động sự chỉ đạo sự điều hành của người sử dụng lao động và trong trường hợp này thì cái sự bình đẳng thỏa thuật đó nó không còn là tuyệt đối nữa và trong cái quá trình thực hiện cái quyền và nghĩa vụ lao động như vậy thì doanh nghiệp hay là xí nghiệp Tổ chức đó có thể chịu sự kiểm tra giám sát của nhà nước và nhà nước kiểm tra giám sát cái hoạt động đó không nhất thiết là phải có
26:13 sự động ý hay không sự động ý của gì của doanh nghiệp vì vậy cái phương pháp bình đẳng thỏa thuận và cái phương pháp quyển Uy phục tổng có thể được gì ạ kết hợp trong một ngành luật Vậy thì cụ thể nếu chúng ta dựa vào cái đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh thì trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay chúng ta có những ngành luật cơ bản nào về mặt lý luận thì hiện nay trong các giáo trình tài liệu người ta thường đề cập tới 12 ngành Luật hiến pháp hành chính tài chính đất đai dân sự vân vân như vậy lưu ý các bạn rằng là cái số lượng 12 ngành luật này ấ nó không phải là một con số bất biến bởi vì cuộc sống luôn luôn vận động và phát triển ngày hôm nay có những quan hệ xã hội mới nảy sinh nhưng cũng có những quan hệ xã hội cũ mất đi và vì vậy vậy sẽ có những
26:59 ngành luật mới xuất hiện và cũng sẽ có những ngành Luật gì cũ mất đi vì vậy nó sẽ không phải là một con số bất biến Ví dụ như hiện nay người ta cho rằng là chúng ta có ngành luật tố tụng hình sự chúng ta có ngành luật tố tụng dân sự và chúng ta cũng có luật Tố tụng hành chính Vậy thì tại sao chúng ta không có ngành luật Tố tụng hành chính và người ta cho rằng là cần phải có cái sự bổ sung thêm ngành luật Tố tụng hành chính Vào hay là ngành Luật môi trường hay là ngành Luật an sinh xã hội vào hệ thống pháp luật quốc gia à và hệ thống pháp luật của một nhà nước Vậy thì nếu như cái hệ thống pháp luật quốc gia Nó điều chỉnh cái hành vi hay là các quan hệ xã hội của các cá nhân thể nhân trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia thì cũng sẽ có những cái quan hệ xã hội mà nó vượt ra khỏi cái đường biên giới quốc gia có nghĩa rằng nó không chỉ là quan hệ giữa
27:45 các cá nhân pháp nhân trong phạm vi lãnh thổ mà nó còn có mối quan hệ với các gì với các thể nhân cá nhân những cái người nước ngoài ví dụ giữa công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài pháp nhân Việt Nam ký kết hợp đồng với pháp nhân nước ngoài vậy thì trong trường hợp này chúng ta có thể là rằng là gì rất là khó để áp dụng pháp luật quốc gia và vì vậy nó cần phải có một hệ thống pháp luật mới tồn tại song song cùng với hệ thống pháp luật quốc gia đấy chính là pháp luật quốc tế và trong hệ thống pháp độ quốc tế có hai cái ngành luật cơ bản đấy chính là công pháp quốc tế và tư pháp quốc tế và các bạn sẽ được nghiên cứu hai cái ngành luật này trong cái chương trình đào tạo cử nh luật nà Vậy thì công pháp quốc tế là gì đây là một cái ngành luật mà nó bao gồm các quy phạm pháp luật được xây dựng đế bởi các quốc gia
28:32 của các nhà nước trên cơ sở là bình đẳng thỏa thuận tự nguyện tự nguyện để điều chỉnh các quan hệ có liên quan đến các nhà nước hay nói cách khác công pháp quốc tế Nó điều chỉnh các quan hệ có liên quan đến đến công quyền ví dụ như là các nước thỏa thuận với nhau để xây dựng lên công ước luật biển năm 1982 Ví dụ như thế các điều ước quốc tế song phương đa phương được ký kết giữa các quốc gia để nhằm điều chỉnh cái mối quan hệ giữa các nhà nước giữa các nhà nước với các tổ chức quốc tế tuy nhiên bên cạnh là cái quan hệ giữa các nhà nước với nhau các tổ chức quốc tế với các nhà nước thì nó còn tồn tại cái mối quan hệ giữa công dân của nước này với công dân của nước kia giữa thể nhân pháp nhân của nước này với pháp nhân của nước kia và vì thế nó đòi hỏi cũng phải có
29:20 một ngành luật để mà điều chỉnh những cái quan hệ xã hội này ví dụ trong lĩnh vực dân sự hôn nhân gia đình lao động tố tụng dân sự vân vân và những cái quan hệ xã hội này liên quan đến địc tư Nó điều chỉnh bởi một ngành luật đó là tư pháp quốc tế Vậy thì một câu hỏi đặt ra là gì Nếu như trong mối quan hệ giữa một thể nhân một cá nhân Việt Nam với một pháp nhân nước ngoài hoặc là giữa các pháp nhân Việt Nam với pháp nhân nước ngoài mà phát sinh tranh chấp thì trong trường hợp này sẽ lựa chọn luật của nước nào để mà điều chỉnh Tôi muốn lấy một ví dụ như này công ty A Việt Nam mua máy móc thiết bị của công ty B và công ty B này là một công ty mang quốc tịch đức theo hợp đồng thì sau
30:07 khi lắp đặt bên B có trách nhiệm vận hành máy và bảo hành trong 3 năm sau 1 năm thì dây truyền gặp trục trặc kỹ thuật và gây thiệt hại cho bên A và giữa bên A bên B phát sinh tranh chấp vậy thì trong trường hợp này cơ quan giải quyết tranh chấp sẽ là cơ quan nào nếu như giữa hai bên A và B không thỏa Thuận là chọn luật của nước a hay là chọn luật của nước B để mà áp dụng hay là cơ quan giải quyết tranh chấp là cơ quan nào hoặc một trường hợp thứ hai là công ty A bên phía Việt Nam bán cà phê cho bên B Hàn Quốc nhưng sau khi nhận hàng thì bên B không thanh toán đầy đủ tiền hàng vì họ cho rằng là cà phê không đạt chất lượng như thỏa thuận vậy thì hợp đồng này không có sự thỏa thuận về luật áp dụng trong trường hợp này chúng ta sẽ áp
30:53 dụng luật nào để mà giải quyết tranh chấp này đây ở đây người ta sẽ đặt ra các các giả thiết Thứ nhất là sẽ áp dụng pháp luật Việt Nam nếu áp dụng pháp luật Việt Nam thì liệu rằng phía Đức có chấp nhận hay không phía Hàn Quốc có chấp nhận hay không Hay chúng ta sẽ áp dụ áp dụng pháp luật của đức nếu áp dụng pháp luật của đức thì Việt Nam có chấp nhận hay không Hay chúng ta sẽ áp dụng pháp luật của Hàn Quốc trong tình huống thứ hai đúng không ạ Như vậy Rõ ràng rằng là nếu tôi là người Việt Nam Tôi mong muốn áp dụng pháp luật Việt Nam và đương nhiên anh là người Đức Thì anh muốn áp dụng pháp luật của đức Vậy thì để giải quyết những T tình huống này các quốc gia các nhà nước có thể thỏa thuận với nhau để xây dựng ra một cái văn bản pháp luật nào đó để có thể giải quyết một cách hài hòa các mối quan hệ và thực tế
31:38 chúng ta thấy rằng có những công ước như thế ví dụ công ước viên năm 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế hay có thể áp dụng các tập quán quốc tế về hợp đồng Để mà giải quyết tranh chấp vân vân và thực tế cũng có rất nhiều trường hợp Ví dụ như là công dân A dông công dân A của nước Pháp kết hôn với công dân B của Việt Nam và sinh con tại một quốc gia thứ ba vậy thì trong trường hợp này chế độ hôn nhân của họ được điều chỉnh bởi pháp luật của nước nào và khi họ sinh con ra thì đứa trẻ đó mang quốc tịch của nước nào đấy là những vấn đề thực tế đặt ra và đòi hỏi là cần phải có gì có sự giải quyết như vậy Ở cái tiết học đầu tiên này cô đã giới thiệu với các bạn về những vấn đề cơ bản liên quan đến khái niệm hệ
32:24 thống pháp luật là gì Các bộ phận hợp thành của hệ thống pháp luật và chúng ta đã nghiên cứu xong cái bộ phận đầu tiên tạo thành hệ thống pháp luật đấy chính là hệ thống cấu trúc của pháp luật và chúng ta đã đi tìm hiểu được những cái yếu tố mà tạo thành hệ thống cấu trúc của pháp luật bao gồm những cái yếu tố nào đúng không ạ tiết học của chúng ta sẽ dừng lại ở đây ạ Cảm ơn các bạn