Bài Quan hệ pháp luật _ Tiết 2/4

Tóm tắt ngắn gọn

Video này trình bày về thành phần của quan hệ pháp luật, tập trung vào chủ thể của quan hệ pháp luật. Các điểm chính được thảo luận bao gồm:

  • Khái niệm chủ thể: Chủ thể là cá nhân, tổ chức đáp ứng điều kiện luật định và tham gia vào quan hệ pháp luật.
  • Năng lực chủ thể: Bao gồm năng lực pháp luật (khả năng hưởng quyền và gánh chịu nghĩa vụ) và năng lực hành vi (khả năng thực hiện quyền và nghĩa vụ).
  • Phân loại chủ thể: Gồm cá nhân (công dân, người nước ngoài, người không quốc tịch), pháp nhân (tổ chức được luật tạo ra) và các chủ thể khác (nhà nước, cơ quan nhà nước, hộ gia đình).

Giới thiệu

Bài giảng này tiếp tục loạt bài về quan hệ pháp luật, tập trung vào thành phần của quan hệ pháp luật, bao gồm chủ thể, nội dung và khách thể. Chủ thể là những ai tham gia vào quan hệ pháp luật, nội dung là quyền và nghĩa vụ pháp lý, và khách thể là những gì mà các bên hướng tới và được pháp luật bảo vệ.

Khái niệm chủ thể quan hệ pháp luật

Chủ thể quan hệ pháp luật là các cá nhân, tổ chức đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định và tham gia vào quan hệ pháp luật. Điều kiện này được gọi là năng lực chủ thể, bao gồm năng lực pháp luật (khả năng được hưởng quyền và gánh chịu nghĩa vụ) và năng lực hành vi (khả năng thực hiện quyền và nghĩa vụ). Năng lực pháp luật do luật quy định, còn năng lực hành vi phụ thuộc vào độ tuổi, khả năng nhận thức và sức khỏe của chủ thể.

Mối quan hệ giữa năng lực pháp luật và năng lực hành vi

Năng lực pháp luật là điều kiện cần, còn năng lực hành vi là điều kiện đủ để chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật. Nếu không có năng lực pháp luật, chủ thể không thể tham gia quan hệ pháp luật. Nếu có năng lực pháp luật nhưng hạn chế năng lực hành vi, chủ thể vẫn có thể tham gia nhưng hạn chế và thụ động, thông qua người đại diện hoặc giám hộ.

Tính chất của năng lực chủ thể

Năng lực chủ thể không phải là thuộc tính tự nhiên mà do luật quy định và được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật. Năng lực này có thể thay đổi theo thời gian, điều kiện, hoàn cảnh và quy định của từng quốc gia.

Phân loại chủ thể quan hệ pháp luật

Có ba loại chủ thể chính:

  1. Cá nhân (thể nhân): Gồm công dân, người nước ngoài, người không quốc tịch. Năng lực pháp luật có từ khi sinh ra, năng lực hành vi phát triển theo độ tuổi, sức khỏe và nhận thức.
  2. Pháp nhân: Tổ chức được thành lập hợp pháp, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản riêng và chịu trách nhiệm bằng tài sản đó. Năng lực pháp luật và năng lực hành vi phát sinh cùng lúc khi pháp nhân được thành lập và có thể thay đổi khi pháp nhân thay đổi hoặc giải thể.
  3. Các chủ thể khác: Bao gồm nhà nước, cơ quan nhà nước (pháp nhân công quyền), hộ gia đình (ở Việt Nam) và các tổ chức đặc thù khác. Nhà nước có vai trò đặc biệt vừa là một bên trong quan hệ pháp luật, vừa là bên sắp đặt ý chí cho quan hệ pháp luật.

Kết luận

Bài giảng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định năng lực của các chủ thể trong quan hệ pháp luật, đặc biệt là năng lực pháp luật và năng lực hành vi, cũng như cách phân loại và nhận diện các loại chủ thể khác nhau.

Summarize any YouTube video in seconds

Get summaries like this one for any video, in your language, with the free Summ app.

Download on the Apple Store
Get it on Google Play

Transcript

YouTube Transcript Generator

0:00 [âm nhạc] À xin chào các em. À buổi trước chúng ta đã kết thúc cái phần thứ nhất là khái niệm và đặc điểm của quan hệ pháp luật. Hôm nay chúng ta đi tiếp phần thứ hai là thành phần của quan hệ pháp luật. Cái phần này nó cho chúng ta biết cái cấu trúc, cái kết cấu của một quan hệ pháp luật nó diễn ra thì

0:46 gồm những nội dung gì, gồm những cái phần nào? Ờ thành phần quan hệ pháp luật thì có ba nội dung chính. Thứ nhất là chủ thể quan hệ pháp luật. Thứ hai là nội dung của quan hệ pháp luật và thứ ba là khách thể của quan hệ pháp luật. Chủ thể nói nô na là những con người, những cái bên tham gia quan hệ pháp luật. Nội dung quan hệ pháp luật nó diễn ra về cái gì? Bao gồm quyền về nghĩa vụ pháp lý. Đấy. Và thứ ba cái mà các bên hướng tới được pháp luật bảo vệ, được pháp luật đảm bảo thực hiện là cái gì? Thì đó chính là khách thể của quan hệ pháp luật. Đó chúng ta tạm hiểu một cái quan hệ thông thường nó cũng diễn ra như vậy. Giữa ai với ai, về cái gì, hướng tới cái gì và khi quan hệ khi tương tác với nhau

1:32 giữa các bên đó thì nó diễn ra giữa những hành vi nào, những quyền nào, những nghĩa vụ nào. Đó thì một quan hệ thông thường ví dụ quan hệ đạo đức, quan hệ đạo lý nó cũng đã có những cái thành phần như vậy. Và đương nhiên với cái thuộc tính của pháp luật là xác định chặt chẽ về mặt hình thức như chúng ta đã biết trong bài trước thì quan hệ pháp luật những cái nội dung này nó xác định rất chặt chẽ, rất rõ ràng. Tôi xin phép đi vào phần thứ nhất, chủ thể của quan hệ pháp luật. Trong phần chủ thể quan hệ pháp luật này có hai cái nội dung nhỏ hơn. Một là khái niệm chủ thể quan hệ pháp luật và hai là phân loại các cái chủ thể này phân chia thành các cái loại các cái nhóm chủ thể khác nhau. Thứ nhất, khái niệm chủ thể quan hệ pháp luật. Thì trong cái phần này tôi sẽ trình bày các bạn là khái

2:19 niệm chủ thể, khái niệm năng lực chủ thể, khái niệm năng lực pháp luật, năng lực hành vi của chủ thể. Và thứ hai, nếu như một chủ thể có năng lực pháp luật và năng lực hành vi thì cái mối quan hệ, cái tương tác giữa năng lực pháp luật và năng lực hành vi nó như thế nào? Và thứ ba cái tính chất của cái năng lực chủ thể nó như thế nào? Chúng ta nói rằng năng lực chủ thể là cái cái là một cái khả năng của chủ thể. Vậy nó có tính chất gì không? Nó là chủ thể tự có hay là nhà nước xác định? Nó có thay đổi gì không? Đấy, những cái những cái yếu tố đó giúp chúng ta hiểu rõ hơn cái cái năng lực của chủ thể. Chúng ta đi vào cái khái niệm cái phần thứ nhất là khái niệm chủ thể. Thông thường cái từ chủ thể đó cho chúng ta thấy nó liên quan đến con người, liên quan đến đến các bên trong một quan hệ

3:06 cụ thể. Thì ở đây chủ thể quan hệ pháp luật là gì? Chủ thể quan hệ pháp luật là những cá nhân, tức là những con người thực thể hiện tại đây, những tổ chức tức là có thể một nhóm người tổ chức thành một nhóm người, một cơ quan tổ chức cũng là một bên trong quan hệ pháp luật. Và những cái cá nhân, cái tổ chức này phải đáp ứng được những cái điều kiện, phải đạt đủ được những cái điều kiện mà những điều kiện này do pháp luật quy định cho từng loại. Ví dụ mua bán thì cái điều kiện nó có vẻ đơn giản hơn so với cái việc là tham gia vào cái khóa học sau đại học chẳng hạn. Đ không điều kiện sau đại học thì các anh chị phải xong phải tốt nghiệp cử nhân. Ví dụ như vậy để chúng thấy cái điều kiện nó rất khác nhau nhưng mà khái quát lại á là nó phải

3:52 các chủ thể phải đáp ứng được những cái điều kiện do luật quy định. Nhưng mà đáp ứng rồi thì phải tham gia đúng không? Phải tham gia vào. Như vậy là chủ thể phải đáp ứng được những điều kiện và thứ hai là phải tham gia. Nếu tôi ở đây và các bạn ngồi đây chúng ta đều đủ điều kiện hết. Ví dụ chúng ta có thể mua bán, chúng ta có thể à mua cho vay ký kết các hợp đồng dân sự bình thường thì chúng ta đủ khả năng làm được điều đó. Luật quy định như vậy đủ, chúng ta đủ khả năng nhưng mà chúng ta không tham gia vì chúng ta đang ngồi đây thì chúng ta không là chủ thể của loại quan hệ pháp luật cụ thể đó. chúng ta ở dạng tiềm năng khả năng thôi. Ờ cái năng lực mà cái cái điều kiện mà nhà nước đặt ra cho các bên để tham gia

4:37 được hay không á chúng ta gọi một cái thuật ngữ khác đó là năng lực chủ thể hay chúng ta gọi là điều kiện mà các cá nhân tham gia vào quệ pháp luật chính là năng lực anh có khả năng để tham gia hay không. À và trong cái năng lực chủ thể để tham gia vào này vào quan hệ pháp luật đấy á thì nó chia thành hai loại năng lực. Hai cái loại, hai cái loại, hai cái nhóm là chúng ta dễ nhận diện thôi. Một là năng lực pháp luật và hai là năng lực hành vi. Để trước khi đi vào cái cái cái chi tiết về mặt chuyên môn á, về chuyên sâu về một chút về cái thuật ngữ pháp lý, tôi nói nô na thế này, nói dễ hiểu thế này là các anh chị muốn làm được điều gì đó thì phải có hai cái yêu cầu. Một là các anh chị có đủ khả năng làm hay không, chúng ta có đủ khả năng để làm được hay không và hai là người ta có cho chúng ta làm hay không. Một cái là bên trong và

5:24 một cái là bên ngoài. Cái bên ngoài tức là những cái chủ thể có quyền người ta có cho chúng ta làm hay không và cái bên trong tức là tự chúng ta có thể làm được hay không. Có nhiều thứ các anh chị muốn mà không làm được vì chúng ta không đủ khả năng. Có nhiều cái chúng ta đủ khả năng chúng ta rất muốn nhưng người ta lại không cho chúng ta làm đúng không? Muốn làm được chúng ta phải đủ cả hai cái điều kiện đó. Một là năng lực mà chúng ta có được. Hai là người ta cho phép chúng ta làm. Và bây giờ quay trở lại năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Cái mà đang được pháp luật á thì nó giống như điều mà tôi vừa nói đó là người ta tức là pháp luật nhà nước có cho chúng ta làm hay không hay là chúng ta có đủ khả năng làm hay không như cái ví dụ tôi vừa trình bày thì chính là năng lực hành vi đó. Vậy năng lực pháp luật là gì? Là khả năng được hưởng

6:10 quyền. Tức là được hưởng các cái quyền và gánh chịu nghĩa vụ có khả năng làm được hay không, có buộc phải làm hay không. Ở đây tôi muốn nói các anh chị là chúng ta có làm đấy không? Không chỉ có nghĩa là chúng ta muốn làm đâu mà đôi khi chúng ta phải gánh chịu. Có nghĩa là chúng ta có thể làm được hay không và chúng ta buộc phải làm hay không. Và hai là à cái xác định cái năng lực pháp luật này á ở đâu? Làm sao chúng ta biết chúng ta có được làm cái này, được ký kết hội đồng, được mua bán hay không, được tham gia vào các khóa đào tạo hay không, được bổ nhiệm hay không, được tiếp nhận hay không? Làm sao chúng ta biết? thì chúng ta dựa vào các quy định của pháp luật là chúng ta dựa vào luật quy định cụ thể thì chúng ta biết là chúng ta có thể tham gia hay không. Hai là năng lực hành vi. Năng lực hành vi thuật ngữ nó là gì? Là khả năng của chủ thể được nhà nước

6:56 thừa nhận. Tôi nhắc lại khả năng của chủ thể này được nhà nước thừa nhận này chứ không phải là anh có khả năng và anh bảo là tôi có khả năng là tôi làm được mà phải được nhà nước thừa nhận bằng hành vi của mình tham gia vào quan hệ pháp luật. Và khi tham gia vào anh thực hiện được quyền và nghĩa vụ. pháp lý do luật quy định. Ờ có những người có năng lực pháp luật nhưng mà không có có năng lực hành vi tức là nhà nước cho phép nhưng anh không đủ sức khỏe hoặc anh không đủ tuổi hoặc anh không nhận thức được cho nên anh không thể làm được. Ví tôi nói ví dụ như là mua bán chẳng hạn. Mua bán chỉ khi diễn ra những người mà có người ta gọi là thỏa thuận ngang giá đôi bên cùng có lợi. Nhưng mà anh không có khả năng thỏa thuận vì anh không có khả năng nhận thức thì không thể tham gia được. Chính vì vậy cho nên

7:42 xác định năng lực hành vi là xác định qua mấy cái yếu tố cơ bản nhất. Tất nhiên trong các ngành luật, trong các lĩnh vực pháp luật sau này các anh chị sẽ tìm hiểu sẽ có nhiều cái cách xác định khác hơn, nhiều cái yếu tố khác hơn. Nhưng đây là cái yếu tố cơ bản nhất. Một là độ tuổi. Độ tuổi thì thông thường trong pháp luật tính là từ đủ. Ví dụ từ đủ 16 tuổi, từ đủ 18 tuổi ở những cái mức nhất định theo cái yêu cầu của lĩnh vực đó. Ví dụ như hôn nhân thì 18 hoặc là sau này người ta có thể tăng lên hoặc người ta có thể giảm đi nhưng mà người ta xác định cái mức à độ cái độ tuổi tức là từ đủ đó. Hai là cái khả năng nhận thức. Có tuổi nhưng không có nghĩa là khó khả năng nhận thức. Và thứ ba là sức khỏe có thể có độ tuổi có nhận thức nhưng sức khỏe không đảm bảo và vân vân những cái tiêu chí khác nữa. Đó thì

8:29 đấy là năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Tóm lại chủ thể là gì? là các cá nhân, các tổ chức hay nói có gọi là các bên. Hai là các bên này, các cá nhân, các tổ chức này phải đáp ứng đ những điều kiện đủ điều kiện thì mới trở thành chủ thể quan hệ pháp luật. Điều kiện đó là gì? Đó là ý thứ ba tôi muốn nói. Điều kiện đó là những cái năng lực của chủ thể có được hay không. Và lực lực đó là hai cái khía cạnh mà tôi vừa trình bày đó năng lực pháp luật tức là luật quy định cho anh có được quyền và nghĩa vụ. Hai là năng lực hành vi tức là khả năng của chủ thể bằng hành vi của mình có thể thực hiện được hay không và năng lực hành vi xác định bằng độ tuổi,

9:15 bằng nhận thức, bằng khả năng nhận thức, bằng sức khỏe của chủ thể. Đó thì cái phần thứ nhất chúng ta đã à trao đổi với nhau đó là khái niệm chủ thể. Và bốn cái vấn đề tôi vừa nêu với các anh chị đấy là bốn cái nội dung cốt lõi để chúng ta nắm được chủ thể quan hệ pháp luật là gì đúng không? Tôi nhắc lại chủ thể nữ cá nhân tổ chức đáp ứng những điều kiện mà điều kiện đó là năng lực chủ thể. Năng lực chủ thể là năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Thì và thứ và tiếp theo nữa là phải tham gia đúng không? phải tham gia quan hệ pháp luật thì mới là chủ thể quan hệ pháp luật cụ thể. Rồi chúng ta đã xong cái ý thứ nhất là khái niệm chủ thể. Vấn đề thứ hai đặt ra là chúng ta đi sâu hơn một chút về cái năng lực của chủ thể này. Cái điều kiện này

10:02 là năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Đây là hai yếu tố à trong một chủ thể, trong một cái điều kiện của chủ thể. Vậy thì nó có cái tương tác với nhau như thế nào khi để trở thành một chủ thể và khi tham gia vào quan hệ pháp luật. Thì như chúng ta đã thấy trên cái cái cái màn hình cái slide tôi vừa chiếu, năng lực pháp luật là điều kiện cần và năng lực hành vi là điều kiện đủ để chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật. Tôi giải thích thêm một chút nữa điều kiện cần là gì? Nói một cách đơn giản, điều kiện cần là bắt buộc phải có, cần phải có, không có, không được. Ý muốn nói rằng muốn tham gia quan hệ pháp luật mà không có năng lượng pháp luật thì không tham gia được. Đúng không? Thứ hai là điều kiện đủ là gì? Đủ là có thể thiếu, thủ đủ và thiếu

10:49 thì như vậy năng lực hành vi thì chủ thể có thể không đầy đủ nhưng vẫn có thể tham gia vào quan hệ pháp luật được. Như vậy những cái cái điều mà những cái điều mà tôi gạch chân trên a trên cái slide này á là năng lực pháp luật là điều kiện cần, năng lực hành vi là điều kiện đủ. Vậy chúng ta thấy cái mối quan hệ, cái vị trí, cái tầm quan trọng của hai yếu tố này. Nói một cách đơn giản, nếu người ta không cho chúng ta làm, nếu pháp luật không cho chúng ta bầu cử ở một quốc gia nào đó, nếu pháp luật không cho chúng ta à mua bán, giao dịch những cái tài sản, những cái phẩm vật đặc biệt, đòi hỏi cái điều kiện đặc biệt thì chúng ta dù có đủ sức khỏe, dù có đủ nhận thức, dù có đủ đầy đủ các điều kiện khác, chúng ta không được tham gia,

11:35 không thể trở thành một bên nói một cách đơn giản là không thể mua bán được. Ngược lại chúng ta có năng lực pháp luật nhưng mà chúng ta thiếu một chút. Ví dụ như độ tuổi chưa đủ, ví dụ sức khỏe chưa đạt, ví dụ nhận thức còn còn hạn chế thì có thể chúng ta vẫn có thể tham gia được và một số quan hệ nhất định. ví dụ thừa kế, ví dụ mua bán và có thể cái sự tham gia này nó nó phải có những điều kiện nhất định chúng ta sẽ trình bày ở ở cái cái ý sau này. Ờ thứ hai, cái mối quan hệ này á là có năng lực pháp luật mà không có hoặc hạn chế được hành vi như tôi vừa nói ở trên á thì vẫn có thể tham gia nhưng mà tham gia hạn chế thôi, tham gia thụ động thôi. Thụ động tức là gì? Nó không theo

12:20 ý mình. Ví dụ như cha mẹ và con cái hoặc là người đỡ đầu với một đứa trẻ, người giám hộ với một đứa trẻ chẳng hạn thì nó được hưởng thừa kế, được hưởng tài sản từ một người khác. Trong trường hợp này do đứa trẻ không đủ khả năng nhận thức, chưa đủ độ tuổi hoặc trong một số cái trường hợp khác là không có đủ sức khỏe thì không thể tham gia vào quan hệ pháp luật được một cách chủ động được, không thể đàm phán, không thể thỏa thuận được bởi vì nó chưa đủ khả năng nhận thức. Thì trong trường hợp này nó vẫn được nhận tài sản nếu là thừa kế, vẫn được nhận tài sản nếu được trao tặng nhưng phải thông qua một cái bên thứ ba, một người thứ ba ví dụ như là người đỡ đầu, người giám hộ hoặc cha mẹ nó.

13:07 Đó, chúng ta thấy cái năng lực hành vi, năng lực pháp luật nó có tương tác với nhau là như vậy. Nó có mối quan hệ với nhau là như vậy. Vấn đề thứ ba chúng ta trao đổi là cái tính chất của cái năng chủ thể này nó có những loại tính chất gì? À thứ nhất á nó không phải là cái tự nhiên mà có được. Tôi trình bày đơn giản trước, sau đó tôi chúng ta sẽ sử dụng cái khái niệm thuật ngữ pháp lý sau. Nó không phải tự nhiên có được đâu mà nó phải do luật quy định. Và do vậy người ta có thể nói rằng năng lực pháp luật, năng lực hành vi không phải là thuộc tính tự nhiên. Tự nhiên tức là gì? Sinh ra nó có như thế. Tự nhiên nó có như thế. Ví dụ như con người tự nhiên là có sức khỏe, tự nhiên là có khả năng nhận thức. Nhưng mà nếu năng lực pháp luật,

13:53 năng lực hành vi á, anh muốn chứng tỏ rằng anh có khả năng thì anh phải được luật quy định, phải được luật thừa nhận. chúng ta gọi là thuộc tính pháp lý. Ý muốn nói rằng á những cái năng lực này phải được luật quy định, phải được nhà nước quy định. Ờ thứ hai nữa cái tính chất của cái năng lực này á, năng lực chủ thể này á là phải được quy định à trong pháp luật, cụ thể là trong các văn bản quy phạm pháp luật. Nói cách khác là gì? Nó không phải từ trên trời rơi xuống. Nếu một con người chúng ta nói có sức khỏe thì đúng là trời cho. Chúng ta hiểu một cách nô na như thế. Nhưng mà cái năng lực pháp luật, năng lực k vi thì không phải trời cho mà là luật quy định, nhà nước quy định. Ở đâu? Ở trong văn bản quy phạm pháp luật. Tức là các văn bản giấy tờ

14:38 chứ không phải là chúng ta cứ thừa nhận như vậy là có được. Một điểm rất quan trọng thứ ba là chúng ta thấy rằng cái năng lực pháp luật năng hành vi nó không cố định, nó cũng có tính thay đổi, cũng có thể thể thay đổi theo thời gian, theo điều kiện, theo hoàn cảnh à theo những cái giai đoạn nhất định, theo những cái nhà nước nhất định, theo những cái xã hội nhất định. Ví dụ à chúng ta đã thấy đó ở một số nước thì cho phép người ta sở hữu súng tức là chúng ta có được một cái khả năng để sử dụng một cái cái loại sản phẩm đặc biệt đó là súng chẳng hạn. Nhưng có một số nước thì không. Tức là chúng ta có thể làm được điều này trong khi ở chỗ khác chúng ta không thể làm được điều đó. Tức là cái chúng ta thấy năng lực pháp luật n vi nó có thể thay đổi theo thời gian mà. hoặc ví dụ chúng ta rất nhiều như là đánh bạc chẳng hạn, ví dụ

15:25 như là ở một số nước thì cho phép phá thai còn một số nước thì không. Vân vân rất là nhiều chúng ta thấy để chúng ta thấy cái sự khác biệt giữa các cái điều kiện hoàn cảnh khác nhau về cái năng lực chủ thể. Hoặc ví dụ trong một cùng một quốc gia năng lực nó cũng thay đổi. Ví dụ như là có một số nước do cái điều kiện hoàn cảnh tự nhiên nó khắc nghiệt thì ờ cái độ tuổi mà để kết hôn á vì cái cái cái sự sinh sản nó kém đi mà cái gia tăng dân số nó kém đi thì cái độ tuổi kết hôn người ta lại kéo lùi xuống. Nhưng đến giai đoạn nào đó nó tăng lên thì người ta có thể lại tăng lên. Như vậy là cái năng lực chủ thể này nó một là gì? không phải là tự nhiên mà do luật định. Ở đâu? Ở trong văn bản quy phạm

16:10 pháp luật. Và nó có thể thay đổi không? Có thể thay đổi. Thay đổi theo thời gian, thay đổi theo hoàn cảnh, thay đổi theo từng quốc gia. Đó thì cái tính chất tôi muốn trình bày các anh chị ba cái ý là như vậy. Ý thứ hai trong cái khái niệm trong cái phần khái niệm này á là phân loại thì chúng ta có những cái loại chủ thể sau đây. Như chúng ta biết chủ thể là những cá nhân, tổ chức có những điều kiện đáp ứng như điều kiện và tham gia quá lại pháp luật. Thì bây giờ là có mấy loại? Thì thông thường người ta chia thành các loại sau đây. Một là chủ thể là cá nhân hay người ta dùng cái từ khác là thể nhân. Một con người thực thể đang sống bằng xương mùng thịt này. Và hai là pháp nhân tức là những cái con người mà do luật tạo ra. Từ từ con người tôi để trong ngặc kép hay chúng ta gọi là những cái những cái pháp nhân tức là con người

16:55 được tạo ra bởi luật pháp, được nhân tạo bởi luật pháp để trở thành một bên trong quan hệ pháp luật. Và ba là các loại chủ thể khác. Chúng ta đi vào loại thứ nhất. Chủ thể là cá nhân. Thì chủ thể cá nhân gồm gì? Gồm công dân, người nước ngoài, người không có quốc tịch. Ví dụ như Việt Nam chẳng hạn, công dân Việt Nam. Chúng ta ở đây là công dân Việt Nam rồi đúng không? Người nước ngoài tức là người không mang quốc tịch Việt Nam mà mang quốc tịch nước khác. Hoặc cũng có thể có những người không có quốc tịch. Đó thì đấy là chủ thể là cá nhân, là những thể nhân, là những con người sống hiện thực. Đây tồn tại chúng ta có thể xác định được đây. Và năng lực pháp luật của họ là có từ khi sinh ra. sinh ra họ có đủ các cái quyền có khả năng tham gia các quan hệ pháp luật ví dụ như là thừa kế ví dụ như là giao dịch nhưng mà họ chưa tham gia

17:41 được bởi vì họ thiếu cái năng lực hành vi chưa đủ năng lực hành vi vậy năng lực hành vi của cá nhân xuất hiện muộn hơn so với sự phát triển của con người ví dụ như độ tuổi chúng ta biết phải không ạ đủ năm thì nó mới đủ tuổi. Ví dụ 6 tuổi là bắt đầu được trên 6 tuổi được giao dịch dân sự rồi 14 tuổi, 16 tuổi, rồi 18 tuổi, rồi 20 tuổi vân vân. thì nó phát triển dần theo cái sự phát triển của con người. Về mặt thời gian, về mặt sức khỏe, về mặt nhận thức, tức là sự trưởng thành trong nhận thức thì dần dần họ được tham gia vào nhiều các quan hệ xã hội hơn so với trước đây. Thì đấy là năng lực hành vi. Còn nương lực pháp luật thì nó được xác định ngay từ đầu là công dân Việt Nam thì anh đủ các cái quyền không có sự phân biệt giữa các công dân với nhau. À và năng ngực hành vi như tôi vừa trình bày là xác định của

18:26 một cá nhân thì dựa trên à độ tuổi, sức khỏe, khả năng nhận thức. Còn đối với pháp nhân thì sự xác định nó không theo cái con người cụ thể mà nó theo các cái tính chất pháp nhân mà chúng ta sẽ tình bày ngay sau đây. Đối với người nước ngoài á, người không có quốc tịch Việt Nam thì họ cũng có năng lực pháp luật, họ cũng có năng lực hành vi nhưng trong một số trường hợp năng lực pháp luật của họ trong một số lĩnh vực thì hạn chế hơn so với công dân Việt Nam. Điều rõ nhất các anh chị thấy hạn chế hơn ví dụ như trong bầu cử chẳng hạn thì công dân nước ngoài không được bầu cử. Ở Việt Nam không được phép bầu cử. Trừ phi họ đăng ký, họ gia nhập quốc tịch Việt Nam. Thế nhưng cũng có những lĩnh vực họ giống như người Việt Nam, ví dụ như mua bán, kết hôn thì đấy là cái loại chủ thể thứ nhất cá nhân. Thì các anh chị lưu ý mỗi

19:12 loại chủ thể chúng ta xác định năng lực pháp luật, năng lực hành vi. Đó là hai yếu tố để chúng ta tìm hiểu về một loại chủ thể. Loại chủ thể thứ hai là pháp nhân. Đặt một câu hỏi đây là chúng ta có câu hỏi đây là tại sao phải có pháp nhân làm gì? Thì ngay từ thời kỳ xa xưa, con người quan hệ giao dịch với nhau là cá nhân và cá nhân, cá nhân và là một nhóm người. Nhưng mà với sự phát triển của các cái quan hệ xã hội, của cái giao dịch trong xã hội, đôi khi nó trình nó cần phải có những cái nhu cầu giao dịch với một nhóm người và về một số lĩnh vực thôi. Ví dụ trong kinh doanh chẳng hạn, chúng ta có quan hệ với một người là chúng ta mua bán, trao đổi và trách nhiệm bên rất rõ. Nhưng mà đôi khi chúng ta muốn thiết lập quan hệ với một nhóm người và với một cái phần tài sản họ đóng góp để thành

19:57 lập một cái pháp nhân để kinh doanh thôi và chịu trách nhiệm trong cái phần mà họ góp vào thôi. Vì lý do đó, vì lý do đó cho nên người ta cần lập ra cái gọi là pháp nhân. Thì pháp nhân, điều kiện pháp nhân nó có thể khác nhau theo từng quốc gia nhưng chung lại và ở Việt Nam nó có thể có sự khác biệt nhất định trong lĩnh vực dân sự và thương mại. Nhưng chung lại có những cái điều kiện để xác định được pháp nhân như sau. Một là tổ chức được thành lập một cách hợp pháp. Tại sao phải như vậy? Bởi vì nếu không thành lập hợp pháp thì người ta sẽ không tìm được cái chủ thể này để quy trách nhiệm đúng không? Và anh phải được thừa nhận. Một con người thì đương nhiên là rõ ràng quốc tịch sinh ra có quốc tịch là được xác nhận bởi nhà nước. Nhưng một tập thể, một nhóm, một công ty thì phải được thừa nhận bởi nhà nước. Cái thứ hai có cơ cấu tổ chức chặt chẽ. Cơ cấu tổ chức

20:43 chặt chẽ một mặt là nhà nước quản lý để cái cái cái bên này khi tham gia giao dịch với cái bên khác xác định được rõ trách nhiệm, xác định được rõ cái chủ thể đó. Ví dụ như ai là tổng giám đốc, ai là phó tổng, ai là trưởng phòng để giao dịch nó dễ thôi. Biết được trách nhiệm của các bên, biết được người mà có cái địa vị hợp pháp để giao dịch với ta. Cho nên phải cơ cấu tổ chức chặt chẽ. Và thứ ba nữa phải có tài sản riêng và chịu trách nhiệm ở cái tài sản đó. V một bên chúng ta ở đây á là một cá nhân chúng ta có thể nắm bắt được địa chỉ tài sản cơ quan nhưng một pháp nhân thì rất là khó một pháp nhân được tạo ra một cái nhân tạo mà cho nên phải có cái để người ta nắm bắt để người ta quy trách nhiệm thì ở đây đó là tài sản thứ tư nó được tạo lập lên rồi á thì nó phải độc lập nó không còn phụ thuộc vào những người xây

21:31 dựng lên nó nữa. Nó trở thành một bên độc lập và tự chịu bằng cái tài sản của mình và có tổ chức chặt chẽ để chúng ta nắm bắt được và nó được luật thừa nhận. Đó chính là cái lý do và cái đặc điểm của chủ thể thứ hai, một loại chủ thể đặc biệt là pháp nhân. Về năng lực pháp luật, pháp nhân và năng hành vi của pháp nhân phát sinh từ thời điểm pháp nhân đó được ra đời, được thừa nhận, được cho phép thành lập vân vân. À văn nâng lực pháp luật, văn lực khánh vi này cùng một lúc xuất hiện đối với cái pháp nhân đó. Và nó có thể thay đổi nếu như pháp nhân đó thay đổi hoặc là sát nhập hoặc là giải thể hoặc là mở rộng lĩnh vực kinh doanh thì có thể cái năng lực này được thay đổi đi. Ví dụ như là một công ty à muốn kinh doanh thêm lĩnh vực khác thì họ phải xin phép và trong trường hợp này họ được mở rộng hoặc một công ty có thể

22:17 bị phá sản thì trong trường hợp này họ mất đi cái năng lực pháp luật, năng lực hành vi của mình. Đó là cái loại chủ thể thứ hai. Đây một cái loại chủ thể rất đặc biệt và trong tương lai cái chủ thể này sẽ thay đổi rất nhiều bởi vì cái cái quan hệ xã hội nó thay đổi, cái nhu cầu thiết lập quan hệ giao dịch nó thay đổi thì các loại chủ thể, các cái tính chất quan hệ nó dẫn đến là cái loại chủ thể sẽ thay đổi nhiều hơn. Ví dụ chúng ta thấy trước đây là ở Việt Nam chúng ta chưa có pháp nhân là chưa có pháp nhân. Sau này chúng ta có pháp nhân ví dụ như công ty chết nhệm hố hạn rồi trước đây chúng ta chưa có pháp nhân một thành viên bây gi chúng ta có pháp nhân một thành viên à và trong tương lai những cái chủ thể này sẽ phát triển sẽ thay đổi rất là nhiều à còn cái loại còn một cái nhóm chủ thể khác nữa

23:04 cái chủ thể mà nó không thuộc cái loại pháp nhân như chúng ta thấy và cũng không thuộc loại cá nhân nó đặc biệt một chút và tùy theo từng quốc gia thì nó cũng thay đổi. À ví dụ như là cái loại chủ thể đặc biệt nhất ở quốc gia nào cũng có, đó là nhà nước và các cơ quan nhà nước và chúng ta gọi là pháp nhân công quyền, một phần nhà nước hoặc chính nhà nước. À ở đây đây là loại chủ thể đặc biệt, đặc biệt ở cái chỗ là gì? Một á nó có thể là một bên trong quan hệ pháp luật như các chủ thể khác. Hai là nó là bên sắp đặt ý chí cho quan hệ pháp luật như chúng ta thấy ở cái phần trên cái bài phần trước trong cái buổi trước. Hoặc có thể là gì? chủ thể này nó tham gia quan hệ pháp luật mà các chủ thể khác trong một số trường hợp không tham gia được. Ví dụ như quan hệ pháp luật quốc tế chẳng hạn thì đây là chủ thể nó đặc biệt ở cái chỗ cái khả năng tham gia của nó và cái năng lực của

23:50 nó. Ví dụ như những cái nguồn lực của cải vật chất thì đây loại chủ thể đặc biệt nhất, đặc biệt về như tôi vừa nói, về năng lực, về khả năng tham gia à về cái cái tính chất của nó trong quan hệ pháp luật. Vừa là một bên lại vừa là sắp đặt thiết lập các cái nội dung quan hệ pháp luật đó. Ờ ngoài ra ở một số quốc gia thì cũng có thể xác lập ví dụ như Việt Nam chúng ta chẳng hạn xác lập thêm các loại chủ thể mà nó hơi đặc thù. Ví dụ Việt Nam chúng ta gia đình là một cái cái hộ gia đình là một cái cái yếu tố gắn kết xã hội và coi trọng được coi trọng à là một thành tố quan trọng xã hội cho nên pháp luật Việt Nam thừa nhận là ngoài các chủ thể khác thì hộ gia đình cũng được coi là một chủ thể là một bên trong quan hệ pháp luật hoặc ví dụ như là trong quá trình quá độ chúng ta có những cái chủ thể khác như tổ hợp

24:36 tác vân vân thì đấy là cái loại chủ thể khác trong quan hệ pháp luật mà cái loại chủ thể này thì đều được luật quy định tóm lại tôi đã chồn các anh chị là thứ nhất khái niệm chủ thể. Khái niệm chủ thể chúng ta lưu ý là ai, điều kiện gồm cái gì, điều kiện để tham gia của vào và quan hệ pháp luật là gì và tham gia vào quan hệ pháp luật thì mới trở thành chủ thể. Thì cái điều kiện các anh chị chú chú ý cho tôi là năng lực pháp luật, năng lực hành vi và cách xác định năng lực hành vi, cách xác định năng lực pháp luật. Chủ thể là ai? năng lực là gì? Và chúng ta đi sâu một chút năng lực là năng lực pháp luật, là năng lực hành vi, cách xác định và tính chất mối quan hệ giữa năng lực pháp luật, năng lực hành vi.

25:24 Tiếp theo nữa, trong cái phần này chúng ta cũng lưu ý cái cách phân loại thành ba cái loại nhóm chủ thể phổ biến nhất, cá nhân, pháp nhân và các loại chủ thể khác. Trong cá nhân, pháp nhân và các loại chủ thể khác, các anh chị lưu ý cho tôi, đặc biệt cá nhân và pháp nhân là cách xác định năng lực pháp luật, cách xác định năng lực hành vi. Có thể nói á trong lĩnh vực pháp luật và trong quan hệ pháp luật, con người các bên rất quan trọng. Cho nên chúng ta luôn luôn xem xét các cái à tính chất, các cái năng lực của họ. Nên bài này là một trong bài quan trọng mà vấn đề này là một về quan trọng của bài này. Tôi xin nhắc lại lần nữa trước khi chúng ta dừng ở đây à là các cái nội dung của cái

26:10 phần thứ nhất này là gì? Một khái niệm chủ thể không là cá nhân tổ chức. Hai là các cái điều kiện, cô nhắc lại các điều kiện. Điều kiện các anh chị chú ý tôi năng lực pháp luật, năng lực hành vi và ba là cái sự tham gia vào. Trong cái điều kiện đó các anh chị xem xét kỹ hơn là mối quan hệ năng lực pháp luật, năng lực hành vi, tính chất của năng lực pháp luật, năng lực hành vi hay tính chất của năng lực chủ thể. Và thứ vấn đề tiếp theo nữa là chúng ta lưu ý thêm về cách phân loại chủ thể. Phân loại là chúng ta phân biệt loại này nó khác với loại kia như thế nào và nhận diện nó trên thực tế. Rồi chúng ta đã dừng cái phần thứ nhất, khái niệm chủ thể. quan hệ pháp luật ở đây. Xin chào các bạn và hẹn gặp lại ở cái buổi sau.

Share

YouTube Video Summaries