0:44 Nam mô sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô bà sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam a mô bổn sư Thích Ca Mâu
1:29 Ni Phật. Mời các biện
5:19 A Di Đà Phật. Thưa tất cả các vị à theo sự phân công của nhà trường, chúng tôi sẽ đến với các vị qua một bộ môn được gọi đó là logic học Phật giáo tên a thuật ngữ à thuật ngữ cũ à gọi đó là Nhân Minh Hậu Phật giáo. À nhưng mà với cách gọi nhân minh học Phật giáo thì à chúng ta chỉ biết ở trong phạm vi của Phật giáo trong nhà chùa. Còn à đối với bên ngoài chúng ta rất khó để nhận định đây là môn học gì. Từ đó cho nên chúng
6:08 tôi mạnh dạng lấy cái tên đó là logic học Phật giáo để chúng ta làm một cái sự đối chiếu với các môn học mà đại học bên ngoài đang học. Vì đối với lưu trích học đó là một trong những môn học cần thiết cho cấp đại học từ các trường đại học bên ngoài đều học môn học này. Nhưng mà chỉ có điều là logic học thì có nhưng mà không có logic học Phật giáo. Ở các trường đại học bên ngoài thì họ sẽ học logic học nhưng mà thật ra cái logic học đó chính là logic học của phương Tây. Nó không phải là logic học của phương Đông. và nó được chia ra làm logic học của phương Đông. Và Phật giáo được xem là
6:55 một trong những logic học của phương Đông. Về môn học này thì chúng tôi sẽ chịu trách nhiệm. À môn học này còn gọi cái tên khác nữa đó là luận lý học Phật giáo. Tức là logic học ở đây đó là đúng, nói thế nào cho đúng và suy nghĩ tư duy thế nào cho đúng. Và từ đó cho nên nó còn gọi cái tên khác đó là luận lý học. Và tuy nhiên thì luận lý thì có nhiều ngành khác nhau nhưng mà chúng ta đang
7:41 chỉ nói về luận lý học Phật giáo. tìm hiểu về môn này, chúng ta sẽ tìm một số tài liệu tham khảo. À vì môn này là một trong những môn khó hiểu. À và do vậy cho nên a nếu nếu chúng ta chưa hiểu được thì chúng ta cần phải tìm hiểu thêm một số sách.
8:27 Quyển đầu tiên chúng tôi xin giới thiệu đó là quyển của Hòa Thượng Thích Thiện Siêu với cái tựa đề đó là Lối vào nhân minh học do Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam đã ấn hành vào năm 1994. À vì sao có chữ lối vào? Bởi vì có khi học môn này rồi chúng ta lần quần lần quần không biết nó đang ở đâu và chúng ta đang ở chỗ nào. À có nghĩa rằng chúng ta chưa thấy được cái lối vào của cái môn học này. Bởi vì nếu chúng ta thấy được lối vào, chúng ta hiểu được thì à chúng ta rất thích thú. Nhưng mà
9:12 nếu chúng ta không hiểu được thì chúng ta sẽ rất là chán nản và ngán ngẫm với cái môn này. Và như vậy thì đó là quyển sách đầu tiên. Nếu chúng ta chưa hiểu thì chúng ta cần phải đọc thêm quyển lối vào nhân minh học. Quyển thứ hai đó là quyển của Hòa thượng Thích Nhất thành. của nhất hành với cái tựa đề đó là Đông
9:57 Phương Luận Lý Hậu. Vì cái môn này nó xuất hiện ở phương đông cho nên hòa thượng mạnh vạn và gọi đó là Đông Phương. luận lý học. Quyển này do nhà xuất bản lá bối. À xuất bản vào năm nào thì chúng tôi không nhớ. Các vị có thể tìm hiểu thêm. Quyển thứ ba đó là quyển của luận sư Damakiti hay còn gọi là của ngài Pháp Xứng với tên gọi là Nê Dạ Gia Bindu.
10:45 À nay dạ gia là tên tiếng Ấn Độ luậng sư Pháp xứng là người Ấn Độ và ngài có để lại một cái quyển luận giải rồi thêm một cái quyển luận giải sớ giải của ngài Đam Âm Mara tức là của ngài Pháp Thường cái chữ N và Gabindu. à dịch nghĩa chữ bindu là một giọt à nê dạ da đó là chánh lý hay còn gọi đó là logic. Chánh lý là lý luận đúng đắng, logic cũng là lý luận đúng đắng. Cho nên
11:32 gọi là nê dạ cha vindu hay còn gọi đó là một giọt logic hay là một giọt chánh lý. Quyển này rất quan trọng và hiện nay quyển này bằng tiếng Anh đã xuất hiện ở tại châu Âu do viện sĩ Nga tên là TKI. Ông đã dịch ra bằng Anh ngữ.
12:37 Quyển thứ tư đó là quyển của ngài Đại Vực Long đại vượt long với cái tựa đề đó là Nhân Minh Chánh lý môn lưng bộ do ngài Trần Uyền Trang đã dịch ra Hán ngữ. Quyển thứ năm đó là quyển của ngài Đaga. Đnaga cũng chính là ngài Đại Phật Long và ngài còn có tên gọi khác đó là ngài
13:23 Trần Na với cái tựa đề quyển sách đó là Nhân Minh Chánh lý môn luận. Và quyển này do ngài Nghĩa Tịch đã dịch ra chữ Hán. Quyển thứ sáu là của ngài Sanrat Vamin.
14:15 Người Trung Hoa thường hay gọi đó là Thương Yết La Chủ với cái tựa đề quyển sách đó là Nhân Minh nhập chánh lý luật. Ngài San Ramin là học trò của ngài Trần Na Đaga đã biên sọt và ngài Huyền Trang đã hán dịch.
15:15 Quyển thứ bảy Nagazina là của Bồ Tát Long Thọ với tựa đề là Hồi tránh luật. À đây là những quyển sách cổ cho nên chưa có nhà xuất bản cũng như lúc đó cũng chưa có năm xuất bản. Quyển thứ tám là của ngài Tuyết Phàm
16:04 với tựa đề là Nhân Minh Thanh Minh Giữ Phật học nghiên cứu pháp. do Hội Phật học Đài Loan xuất bản. À quyển này mới nhưng mà chúng tôi quên mất cái năm quyển thứ chí của thượng tọa Nhật Từ với tựa đề là tổng quan về logic học Phật giáo. Đây là tài liệu giảng dạy tại Học viện Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh.
17:02 Quyển thứ 10 của ngài Vương Tấn. đạt với cái tựa đề là logic học đại cương. Logic học đại cương à là một quyển đang học ở các trường đại học bên ngoài. À chúng tôi tham khảo để chúng ta so sánh giữa logic học Phật giáo và logic học của phương Tây. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2000.
17:55 Quyển thứ 11 của Nguyễn Anh Tuấn Tô Duy Hợp với tựa đề là Logic học hình thức nhà xuất bản Đồng Nai năm 2001. quyển thứ 12 của Hoàng chúng với tựa đề Logic học phổ thông Nhà xuất bản giáo dục năm 1996. Ba quyển này à đều là đang nói về logic học của phương Tây nhưng mà chúng tôi
18:41 đưa vào để chúng ta tham khảo. Mặc dù nó cùng một chủng loại nhưng mà cái tựa đề có hơi khác. Đó là một cái là logic học đại cương, một cái là hình thức và một cái đó là phổ thông. Thật ra cái tên khác nhưng mà nội dung cũng không khác. Không khác lắm. Quyển thứ 13 đó là của giáo sư Minh Chi với tựa đề là Nhân Minh học Phật giáo do Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam đã ấn hành vào năm 1996.
19:36 À đó là một số tác phẩm chúng tôi giới thiệu với các vị. Ngoài ra còn một số tác phẩm mà chúng tôi chưa có đưa lên hết. à các vị tìm thấy đâu đó mà mang cái tên là logic học hay là nhân minh học thì nó chính là một. Các vị có thể lấy đó để làm tài liệu tham khảo. Trước hết chúng tôi nói về chương mộng logic học của phương đông. hay còn gọi cái tên khác đó là nhân minh học.
20:23 Nhân minh học là nói chung, còn nhân minh học Phật giáo là chúng ta đang nói riêng dành cho Phật giáo. Nhưng mà thật ra là chúng ta nói là phương đông nhưng mà là đang nói cho đất nước Ấn Độ vì đất nước Ấn Độ là một trong những đất nước phát triển rất mạnh về cái bộ môn Luis học. Trước khi Đức Phật của chúng ta ra đời thì tại đất nước Ấn Độ môn luôic học này đã phát triển cực mạnh. Nếu như ai đó mà có đọc nghiên cứu một số kinh điển, chúng ta thấy bối cảnh của đất nước Ấn Độ lúc bấy giờ là người dân Ấn Độ họ rất thích thú để mà tìm hiểu đi
21:09 tranh luận. À tranh luận tức là ở trong nước của họ có những buổi tranh luận và những buổi tranh luận đó người dân của Ấn Độ họ thích để mà đi nghe nghe coi bên nào thắng. Và sau khi biết được bên Thắng là bên tài, bên giỏi họ sẽ đi học theo. À cho nên một vị mà tranh luận nổi tiếng lúc bấy giờ học trò và người hâm mộ à fan là rất đông. À cho nên đất nước Ấn Độ là một trong những đất nước đặc biệt như vậy. Nếu như chúng ta thấy hiện nay trên thế giới những cái buổi giải trí mà đông
21:55 người nhất là hiện nay đó là môn túc cầu hay còn gọi là môn bóng đá. À số lượng người xem bóng đá là rất đông. Ví dụ như có những cái sân vận động ở Việt Nam chúng ta nhiều nhất cái sân vận động mà có thể chứa được khoảng 40.000 người là thấy đông dữ lắm rồi. Nhưng mà ở nước ngoài ở nước Đức có một cái sân vận động được xây dựng 80.000 người, tức là gấp đôi cái sân vận động của Việt Nam của chúng ta. Và cái số lượng 80.000 người mà xem một trận bóng đá là quá đông. chưa kể là những người xem trực tiếp truyền hình à có nghĩa rằng cái lực lượng mà người theo dõi môn túc cầu, ngôn bóng đá là
22:43 rất lớn. Nhưng đặc biệt ở tại đất nước Ấn Độ môn bóng đá không phải là môn nhiều người theo dõi nhất. Và có ai đó sẽ nói rằng cái môn Rick hay là Ricket thì đó là một cái môn mà từ lúc thực dân anh đi vào đất nước Ấn Độ và nó đã trở thành một cái môn rất nổi tiếng và rất nhiều người dân Ấn Độ họ thích thú nhưng nó cũng không phải là một cái nơi mà thu hút nhiều người nhất. Như vậy thì cái môn mà thu hút nhiều người đến để đông mà theo dõi cho bằng được đó là môn gì? Đó chính là môn logic Đông Phương. Có nghĩa là người dân Ấn Độ
23:28 họ thích nghe cãi luận lý nhiều hơn là họ giải trí bình thường. Có nghĩa rằng cách giải trí của họ là tìm những người giỏi, họ thích lý luận. Nhưng mà nó ngược lại với Việt Nam. Việt Nam chúng ta mới cái mới những cái môn lý luận này là không ai thích thú. Ví dụ như thỉnh thoảng Học viện Phật giáo Việt Nam của chúng ta cũng như là học viện có những cái chương trình hội thảo ờ từ trong nước cho đến quốc tế. Và có một điều là các sinh viên của chúng ta là học viện là những người có trí thức t cho đến những nhà trí thức như là thạc sĩ, tiến sĩ hay là nghiên cứu sinh họ không quan tâm, không màn
24:15 tới cái vấn đề là hội thảo. Ờ cho nên những một những cái buổi hội thảo là rất tội nghiệp. À có nghĩa rằng buổi sáng khai mạc thì đi rất đông đảo nhưng mà buổi chiều để nghe thảo luận thì hầu như không có ai đòi thảo luận và mình cũng không thích thú gì tranh luận. À cuối cùng là không tổ chức được bên ngoài và thường thường là chúng ta kéo về chùa để nhờ thêm quý tăng, quý ni, quý Phật tử của chúng ta những người học ở Phật ráng lên ngồi nghe. ráng thôi chứ còn thật ra cũng không thích thú. Nhưng mà người Ấn Độ thì đặc biệt là họ mua vé để vào.
25:02 Ví dụ như ở đây chúng ta là cho miễn phí nhưng mà không ai thích thú. Còn ở Ấn Độ là phải mua vé vào và họ tranh nhau giống như là như là đá bóng vậy đó. Túc cầu vậy đó. Họ mua vé họ tranh luận và họ thích thú họ chen chấn chen lớn để mà vào nghe cho bằng được. bởi vì không nghe được là họ cảm thấy nó tiếc núi. Còn đối với mình nghe chi cho nó mệt, ngủ cho nó sướng. À và đây là cái tư tưởng của người Việt Nam. Và với cái tư tưởng đó cho nên những nhà nghiên cứu, những nhà lý luận ở Việt Nam không diều. Còn đất nước Ấn Độ là phải nói rằng cực đông, cực nhiều. Và chính điều đó à cho nên mới có thể
25:51 sản sinh ra những điều kỳ diệu. Đó là người ta hỏi là Phật giáo à trong tương lai có thể là ở nước nào khác hay không? Mà tại sao nhiều đời trong quá khứ của Đức Phật và cho đến đời hiện tại và cho đến tương lai là Đức Phật Di Lặc ngài sẽ xuất hiện tại đất nước Ấn Độ mà không phải đất nước nào khác. Bởi vì chỉ có đất nước đó người ta mới có thể chịu theo dõi. Bởi vì những nhà thích lý luận họ mới thích những cái những cái trạng thái tư tưởng triết học. Còn nếu không phải là những nhà thích nghe thì chúng ta nghe không nổi. Tư tưởng triết học này triết học nọ chỉ có những nhà nghiên cứu học môn đó họ mới chịu nghiên cứu.
26:38 Còn nếu không phải là môn đó chúng ta cũng chưa chắc nghiên cứu. Chẳng hạn như cái môn mà chúng ta hiện nay là có nhiều sinh viên đang ngán ngẫm và không thích lắm đó là môn tiếp mát lê. Chúng ta thấy cái môn này học để làm gì? Nhưng mà tuy nhiên chúng ta là nhà nghiên cứu không thể nói như vậy chứ
29:10 Chúng ta thấy muôn đời vẫn không thay đổi và nó vẫn luôn luôn có mặt và tồn tại. Đây là một trong những điều mà chúng ta phải cần phải tìm hiểu chứ còn chúng ta chọn lựa mà chúng ta chọn theo kiểu gọi là à chúng ta tin theo một cái niềm tin thì nó không phù hợp lắm. Nhưng mà bên cạnh thì nhiều người nói rằng Phật giáo có gì đâu mà nghiên cứu. Nhưng mà thật ra khi chúng ta nghiên cứu rồi chúng ta mới thấy rằng tư tưởng của Phật giáo là một cái tư tưởng triết học rất cao. Nói đến chỗ này, chúng tôi nhớ đến một cái câu chuyện của một vị thầy nghiên cứu ở trường đại học Ấn Độ
29:56 và vị thầy này đã tốt nghiệp tiến sĩ Phật học ở tại Đại học New Dele. Và sau đó vị thầy này muốn ở lại làm tiếp một cái tiến sĩ hai. Và vị thầy này tích thú với cái môn là triết học phương Tây. Bởi vì mình đã học triết học Phật giáo rồi. Bây giờ mình tìm hiểu co phương Tây họ triết học như thế nào. À cho nên muốn đi vào cái mãng đó. Và vị thầy đó đã đến một cái trường đại học à gặp một vị giáo sư về triết học của phương Tây và trên bày cái nguyện vọng tôi muốn nghiên cứu tiến sĩ hai là nghiên cứu sinh. về môn triết
30:41 học phương Tây này. Vị giáo sư đó coi lý lịch còn xong xuôi. Vị đó mới nói một câu thế này. Nó nói thưa thầy thầy không biết thầy nghĩ như sao. À trong tất cả các lỗi triết học thì triết học Phật giáo là một trong những triết học trùng nhất. Nó bao gồm cả triết học phương Đông và bao gồm cả triết học phương Tây ở trong đó. mà thầy đã học triết học Phật giáo rồi mà bây giờ thầy đi quay ngược lại để tìm hiểu về phước triết học phương Đông hay gọi học phương Tây thì thầy không biết có đi lộn đường hay không chỉ nói một câu đó thôi thầy này sinh lại hồng ô sơn về luôn tức là về nước luôn không cần phải tiếp tục với một cái chương trình tiến
31:27 sĩ ha vì chúng ta đã học được cái triết học Phật giáo là một cái triết học lớn trong cái triết học Phật giáo về nhân sinh quan vũ trụ Quan là trong đó nó đều có đầy đủ mọi thứ. Nó giải quyết mọi vấn đề về triết học, về tư tưởng à về nhân sinh quan, về vũ trụ quan một cách rõ ràng đến nơi đến chốn. Trong khi đó phương Tây chỉ là phỏng đoán, phương đông cũng là phỏng đoán. Chưa có một ai có thể nói một cách chắn chắc đó là chân lý. Nhưng mà trong khi đó triết học Phật giáo thì Đức Phật lại tự nhận mình là một trong những người có đủ khả năng và nhận thấy tất cả các sự vật và ngài nói lên những điều đó. Cho nên đó là một triết học lớn
32:15 và vị giáo sư ở bên ngoài mà hội nói như vậy. Thầy này nghe xong rút đơn luôn. Cứ cứ tưởng rằng phương Tây nó có một cái gì đó khác biệt và muốn tìm hiểu thêm để có thể làm một sự so sánh giữa một cái triết học phương Tây và một cái triết học của Phật giáo. Nhưng thật ra không cần phải so sánh thêm. có nghĩa rằng không có một triết học nào qua cái triết học của Phật giáo và không có một luận lý nào có thể qua được cái luật lý của Phật giáo. À chúng ta nói như vậy để thấy rằng cái lưu sức học vương đông hay là nhân minh học là tên cũ nó mang một cái tầm ảnh hưởng rất lớn.
33:00 Trước hết chúng ta sẽ đi về phần một La Mã ta sẽ tìm hiểu logic học là gì. logic học hay ta còn gọi đó là luận lý học của phương đông và ta cũng gọi đó là nhân minh học. Và môn nhân minh học này nó vốn là cái gốc từ đất nước Ấn Độ và là một trong những môn học mà nó nằm trong Ngũ Minh. Ngũ Minh là năm cái môn
33:46 học mà dành cho tất cả các vị tu sĩ. Bởi vì sao dành cho tu sĩ? Bởi vì một vị tu sĩ giỏi cần phải biết về Ngũ Minh năm cái môn học này. Và ở tại trường Đại học Năan Đà, không biết các vị có nghe tên đó chưa? À trường đại học Năan Đà với thế giới ngày nay họ đi nghiên cứu về lịch sử và họ thấy được một điều rất lạ. Trường đại học Nan Đà được xem là trường đại học đầu tiên của thế giới. Cái câu này rất là chấn động đối với tất cả các nước. Xưa nay cứ nghĩ rằng trường đại học phải xuất hiện ở Âu Châu bởi vì
34:32 Âu Châu họ rất mạnh về vấn đề nghiên cứu lịch sử. Ví dụ như tất cả các nhà học giả từng thời kỳ năm nào năm nào họ ghi chú rất kỹ. Trong đó ở phương Đông thì từ đất nước Ấn Độ cho đến Phật giáo chúng ta thì bỏ qua cái phần lịch sử này mà chúng ta chỉ giữ lại cái phần nội dung là tư tưởng của những nhà triết học đó như thế nào thôi. Còn về phần lịch sử chúng ta hầu như không nghiên cứu. Chúng ta xem nhẹ cũng như ở trong Phật giáo của chúng ta là nhiều lúc tiểu sử của chư tổ chúng ta là các ngài giấu hết, các ngài không có cho đệ tử biết và cũng không công bố ra bên ngoài, chỉ ngoại. Trừ một vài trường hợp rất đặc biệt và có đệ tử ghi lại thì lúc bấy giờ
35:19 mới có một vài quyển và được truyền bá như là ngài Quảng Khâm à Thiền Sư Quảng Khâm hay là các vị như là à những vị thiền sư nổi tiếng tại Trung Quốc là được ghi chép lại. Còn hầu hết là các ngài đều giấu hết và chúng ta chỉ biết được sơ sơ từ các đệ tử và từ đó cho nên khi mà công bố trường đại học Nan Đà là một trong những trường đại học đầu tiên của thế giới thì ai cũng ngỡ ngàng và người ta tìm hiểu thêm là những nhà triết học đầu tiên trên thế giới là ở nước nào thì cũng tìm ra đó
36:05 chính là đất nước Ấn Tộ. Và người ta hỏi ở đất nước nào có nhiều nhà triết học nhất trên thế giới thì cũng là đất nước Ấn Độ. Đây là một trong những phát hiện mà nó đã gây chấn động. Có nghĩa rằng đất nước Ấn Độ là một trong những đất nước rất thích lý luật và từ đó choên ai nghi cũng có đủ tư tưởng và học thuyết. và họ có những cái tư tưởng triết học khác nhau, học thuyết khác nhau nhưng mà người ta thích thú nhất vẫn là cái tư tưởng của ếch Đức Phật. Và ở tại trường đại học Nan Đà lại là một cái trường đại học đào tạo tu sĩ chứ
36:50 không phải là đào tạo dành cho các vị học viên ở bên ngoài dành cho tu sĩ thôi. Và trường Đại học Nandà được xem như là một trong những cái trường rất lớn đó dành cho cả đất nước Ấn Độ bởi cả đất nước Ấn Độ chỉ có một trường. Từ đó cho nên cái số lượng mà của các vị tăng lữ lúc bấy giờ về là gần một à 15.000 ngàn vị tu sĩ và các vị tu sĩ đó ở nội trú và phải thêm những người phục vụ Phật tử vào để mà phục vụ nấu cơm cho các thầy là tính ra r gần 5000 à cư sĩ phục vụ và các vị giáo thọ sư là
37:37 gần 2000 vị giáo thọ sư cũng ở luôn trong đó để mà giảng dạy theo từng phương khoa. À cho nên thì công bố như vậy họ thấy rất ngạc nhiên, chưa có một trường đại học nào trên thế giới mà có đủ một cái lượng đông đảo như vậy. Không có nơi nào mà trong trường lại có thể chứa được khoảng 20.000 à vị đang ở trong đó và cùng tu học và cùng học một chương trình đó là ngũ minh. Như vậy thì ngũ minh là gì? Và phương cách đào tạo nó khác với học viện của chúng ta ngày nay. Ngũ Minh nó gồm có một đó là nội minh,
38:23 hai là y phương minh, ba là công xảo minh, bốn là thanh minh và năm là nhân minh. Và một vị tu sĩ mà biết được năm Minh này trở thành một trong những bực gọi là cực kỳ giỏi ở mọi phương diện khác nhau. Ngày nay thì chúng ta thấy các thầy chỉ giỏi về nội minh thôi hoặc là nếu có giỏi thêm thì cái môn nhân thanh minh và nhân minh và hiếm có thầy nào mà giỏi luôn cả cái môn như là y phương minh hay là công xảo minh. Nội minh là gì? Đó là nghiên cứu về lời dạy của đức thế tôn, lời dạy của đạo
39:09 Phật. có nghĩa rằng à nghiên cứu rất kỹ và nghiên cứu và ta tìm hiểu đến nơi đến chốn vì sao và tại sao tức là dùng lý luận để hiểu biết chứ không phải là chỉ có nghe qua rồi chấp nhận chấp nhận một cách mù quán với những tư tưởng đó mà nghiên cứu tại sao chúng ta phải chấp nhận phải nghiên cứu thật sự. Chẳng hạn như chúng ta sẽ tìm hiểu là nghiên cứu vì sao Phật tử phải đi chùa. À cái chỗ đó được gọi là nghiên cứu. Đó là lý luận phải tìm hiểu đến nơi đến
39:57 chốn. Và đối với tất cả các thầy một khi đã vào tu là cắt đức mọi cái học ở bên ngoài trong thời gian tìm hiểu về nội minh. À cho nên à nếu như các thầy nào mà muốn tìm hiểu thêm các môn khác ở các trường đại học khác vẫn cho các thầy đi tham dự nhưng sau khi học xong phần nội minh mới cho đi học. À cho nên có nhiều vị là mới vào chùa là phải nhốt vô luô trong chùa khoảng 5 6 năm không cho đi học bất cứ môn nào khác chỉ học về nội minh học vững vàng nội minh thì bắt đầu mới tiếp cận với binh với
40:44 các môn học khác. Bởi vì à nếu tiếp cận sớm với môn những môn bên ngoài thì chưa học hết nội minh mà nghiên cứu bên ngoài thì lúc bấy giờ rơi vào cái tư tưởng lan mang. Tức là không hiểu là giữa lời Phật dạy với tư tưởng bên ngoài cái nào đúng, cái nào sai. À cho nên đầu tiên là phải học nội minh cho vững vàng học hết tất cả những lời dạy của Phật. Năm bộ Nikay kinh điển đều phải học sạch. Và sau khi học hết những tư tưởng đó thì lúc bấy giờ đi học bên ngoài bắt động mới dễ dàng đối chiếu. Còn nếu không chúng ta không có cái gì để đối chiếu và chúng ta sẽ hoan mang là cái nào đúng, tư tưởng nào sai. Nên tìm hiểu thêm về
41:30 triết học Mát Lê. Nhưng chúng ta đã vững vàng với cái triết học Phật giáo thì chúng ta thấy triết học Mát Lê nó sẽ có cái sự tương đồng và nó gần giống với cái triết học Phật giáo như thế nào. Chúng ta sẽ dễ dàng để mà nghiên cứu tìm hiểu đến nơi đến chốn. Môn thứ hai mà một vị tu sĩ cần phải tìm hiểu đó là nghiên cứu về cái việc trị bệnh cho thuốc. ngày xưa không có bác sĩ, không có bệnh viện cho nên vai trò của tu sĩ vừa là một vị tu sĩ mà vừa là vị thầy thuốc. Cho nên là các thầy phải xung phong làm cái nhiệm vụ thầy thuốc này. Cho nên ngày hồi xưa là các thầy phải học luôn
42:17 môn này ở tại trường đại học đào. Có nghĩa rằng khi các thầy ra trường là ở đâu quen biết là đều là những người trị bệnh. Cho nên các vị thấy ngôi chùa ngày xưa nó cực kỳ quan trọng. Và cái quan trọng đó ngày nay chúng ta thấy còn một số ngôi chùa vẫn còn giữ nguyên cái giá trị của y phương minh. Chẳng hạn như những cái ngôi chùa họ làm phúc nam và vào các ngôi chùa đó là hầu như là trỉ bệnh thì đó chính là y phương minh. Ngày xưa là như vậy. Ngày nay thì có bệnh viện, có bác sĩ. Từ đó cho nên vai trò của các thầy nhẹ bớt và để dành cho các vị bác sĩ bên ngoài làm việc và các thầy chỉ tập trung vào cái nội minh mà
43:03 thôi. Ngày xưa y Phương Minh cũng phải học. Môn thứ ba mà các thầy học đó là công xảo minh. Đó là nghiên cứu về những công kỷ nghệ. Công kỷ nghệ từ tất cả các loại kỷ nghệ đều phải biết. Và đặc biệt ngày nay là với cái công nghệ thông tin. Cái công nghệ 4.0 thì ở đây tu sĩ không thể không biết. Đừng nói là tu sĩ chỉ lo tụng kinh niệm Phật thôi mà cũng phải dỗi về công nghệ. Chẳng hạn như có một thầy sau khi học xong một viện đã nói với chúng tôi là thầy đó về quê và ở quê họ không mặn mà gì đến Phật giáo. Thầy đó mới thấy các em học công
43:49 nghệ yếu quá. Thầy đó mới lên thành phố. thu mua những cái máy cũ và đem dĩ quê mở một cái lớp công nghệ dạy cho các em sử dụng rành rẽ về máy vi tính. Và thầy này rất thành công. Các lớp trẻ ở trong làng họ tới học nườm nộp bởi vì cái chỗ đó không có chỗ nào dạy và có khi chỗ dạy học rất xa. Còn này chùa mở miễn phí toàn bộ từ đầu đến cuối và từ đó thầy này rất thành công. thành công cho tất cả các em đến chùa. Bởi vì các em đến chùa không có bắt buộc các em phải vào chùa nhưng mà tự nhiên các em mến mến thầy rồi sau đó tự nhiên bắt đầu trở thành quy y rồi trở thành Phật tử rồi từ đó kéo theo phụ huynh cũng đi
44:36 theo. Từ ngay đó trên cái công sở Minh này nó trở thành một cái phương tiện để giúp cho mọi người đến với đạo Phật. Đầu tiên từ công nghệ họ tìm hiểu về giá trị của đạo Phật. giúp ích gì được cho cuộc đời. Cái môn thứ ba, thứ tư đó là thanh minh. Thanh minh có nghĩa là một cái môn nghiên cứu về ngôn ngữ, văn phạm túc từ học. Ví dụ như tiếng Việt của chúng ta cũng phải nghiên cứu. Có nhiều người sẽ nói Trần Rập ơi, tiếng Việt tôi nói chuyện còn tiếng Việt như vậy là tôi cũng đã giỏi rồi, đâu cần phải nghiên cứu. Nhưng mà thật ra ngôn ngữ tiếng Việt của chúng ta cũng cần phải nghiên cứu. Ví dụ như
45:25 ngay cả chúng ta là những người đã học cử nhân Phật học rồi nhưng mà dấu hội dấu ngã chúng ta vẫn có nhiều lúc sai tới sai lui. Chúng ta nghĩ rằng nó đúng nhưng mà tới lúc chúng ta lật tự điển lại thì chúng ta thấy nó sai. Như vậy thì hiện nay là Bộ Giáo dục họ cũng đã có những quy định tại vì tranh cãi nhiều quá và họ quy định rằng cái chữ này phải là dấu ngã, cái chữ kia phải là dấu hỏi và chúng ta cần phải à ngã cho đúng. Có nhiều người nói rằng tôi viết chữ có chữ là được rồi, cần gì hỏi ngã kỹ quá. Nhưng mà thật ra chúng ta là những người học đại học và trong tương lai là một nhà học giả. À cho nên chúng ta có thể ra một vài tác phẩm gửi báo đài hay là ra một quyển
46:13 sách thì trong quyển sách của chúng ta tuyệt đối không được sai về phương diện dấu hổ dấu nghệ. Bởi vì chúng ta sai nó làm cả một thế hệ đi sai. Những người đọc theo họ nói đây sách này ghi như vậy nhưng mà thật ra chúng ta sai và khiến cho bao nhiêu người khác họ cũng sai về cái chỗ thanh minh nghiên cứu về cái ngôn từ cái văn phạm và cái tu học. Và thậm chí là trong cái thanh minh này nó còn nghiên cứu cả các ngôn ngữ nước ngoài. À đối với một số người thì cứ cho rằng tu sĩ là chỉ biết phạm vi tiếng Việt là đủ rồi, đâu cần học chi nhiều. Và đó cũng là tư tưởng của chúng tôi cách đây vài chục năm.
47:00 vài chục năm chúng tôi nói tiếng Anh học chi mình lo tu là lo tu thôi. Nhưng mà chính cái chỗ mà phải biết được thêm một ngôn ngữ là biết thêm được một cái tập quán, một cái phong tục và biết thêm một cái nền văn hóa mới. À cho nên cái chỗ này cái biết đó là cực kỳ quan trọng. Nó làm mở mang phía óc của chúng ta. Cái nhìn của chúng ta nó thoáng hơn. Mỗi một người nó có một quan điểm, mỗi một quốc gia nó có một cái phong tục. trật tự tập quán cũng khác biệt. À như vậy thì chúng ta tìm hiểu thêm nó cũng tốt thông qua cái ngôn ngữ của nước đó và chúng ta sẽ tìm hiểu thêm. À như vậy thì nếu các thầy nào mà giỏi về ngôn ngữ thì chỗ này quá quý. Chẳng hạn như chúng tôi có biết một vị tu sĩ mà biết tới bảy loại ngôn
47:47 ngữ. Khi chúng tôi nghe được cái tin này, chúng tôi cũng giật mình. Và vị tu sĩ đó là ở chùa Già Lam. Không biết các vị có biết phụ không? Hả? Cụ tên gì? Cụ cũng vừa mới tịch đây thôi hả? Và đốn tuệ sĩ bảy ngôn ngữ chúng tôi nghe mà chúng tôi phục kinh hồn. Bảy ngôn ngữ mà biết bảy ngôn ngữ biết đọc biết viết biết nói thành thạo cái chỗ này mới là hiểu lý dục chứ không phải chỉ có biết thôi mà biết đọc biết nói, biết nói, biết thành thạo, biết hiểu được. À nói như vậy có nghĩa rằng à đừng cho
48:33 rằng là các thầy là không có tìm hiểu và đừng cho rằng là các thầy chỉ cần học trong nhà học vài chữ tiếng Việt là đủ rồi. Cái học vài chữ đó nó đóng khung cái tư tưởng của mình lại và nó không mở rộng được cái tư tưởng của chúng ta. Và nếu chúng ta mở rộng thì lúc bấy giờ chúng ta thấy nó hoàn toàn khác. Giống như là hồi xưa chúng ta ở trong nhà, chúng ta chỉ quay vẩn trong nhà thôi. Còn bây giờ chúng ta đã ra nhiều nhà. Bây giờ chúng ta ví dụ như đối Phật tử thì hiện nay các vị chỉ biết gia đình của mình thôi. Nhưng mà đối tu sĩ là bây giờ là đã ra một cái gia đình của mình rồi. Thì bây giờ gia đình của các vị tu sĩ hiện nay là nhiều gia đình. Gia đình nào mà cần các thầy tới, các thầy sẽ tới
49:18 và xem đó như là gia đình của mình và trách nhiệm và nghĩa vụ cần phải làm. À như vậy thì cái tầm nhìn của các thầy nó sẽ rộng hơn. Rộng hơn là mình nhìn ở nhiều gia đình và mình thấy từ cái chỗ nhìn ra nhiều gia đình chúng ta thấy rằng hoàn cảnh của mỗi gia đình mỗi khác. Ngày xưa chúng ta nhìn trong gia đình của mình chúng ta chỉ biết hoàn cảnh của gia đình mình thôi. Còn những hoàn cảnh khác chúng ta không hiểu. Và chính không hiểu cho nên chúng ta không có thương. Và khi chúng ta hiểu ra rồi thì ta thấy rằng gia đình cũng gia đình nào cũng có nỗi khổ của gia đình đó. Từ đó cho nên bắt đầu cái tình thương của chúng ta nó sẽ rộng hơn. A cho nên cái chỗ thanh minh này là cực kỳ quan trọng biết nhiều ngôn ngữ và giao tiếp được với nhiều đối tượng à và
50:04 nó sẽ làm cho tâm trí của chúng ta nó được mở rộng ra. Và đặc biệt với một cái môn học mà được đặt sau chót tức là sau cái môn nội minh, y phương minh, công sở minh, thanh minh và nhân minh là cái môn cuối cùng. Đó chính là nghiên cứu về luật lý học. Luận lý học nó bao gồm cả hai phương diện. Một đó là tư duy đúng đắng và thứ hai là diễn đạt tư duy đó đến cho mọi người cách đúng đắng. Và phải nghiên cứu, phải luận lý, thuyết phục mình. Cái mình hiểu là phải cho đúng. Và sau khi mình hiểu rồi mình đem những điều mình hiểu nói cho người khác hiểu.
50:50 Không biết các vị có bao giờ gặp trường hợp là mình hiểu nhưng mà mình nói cho một ai đó mình nói một hồi cái người ta lắc đầu không hiểu gì hết. Không biết các vị có bao giờ gặp trường hợp đó chưa? Gặp hoài đúng không? Dạ gặp hoài. Lý do là bởi vì mình luận lý học chưa đầy đủ. có nghĩa rằng luận lý của mình là hơi bị yếu từ ngay đó cho nên mình những điều mình hiểu mà mình nói hoài người khác còn không hiểu. Và nhiều người không hiểu như vậy đó cho nên mình phán một điều đó là các vị mình chê người ta là mày ngu quá. Mình hay nói câu đó và nói xong câu đó là bị người ta quán trách. Người ta quán mình, mình chử người ta
51:36 ngu người ta không chịu. Người ta quán mình là xem thường người ta. Nhưng thật ra cái người mà nói câu này là do mình diễn đạt không đạt, tức là mình là yếu. Bây giờ nói thêm một góc độ khác là hiện nay chúng tôi lãnh cái trách nhiệm giới thiệu các vị cái môn này. Nếu như sau khi học hết mà các vị không hiểu gì hết thì lỗi tại ai? Có thể ai đó sẽ đổi thừa là tại các tị các vị không chịu học, không chịu nghiên cứu, không chịu đọc sách. Nhưng đầu tiên chúng tôi phải nói rằng diễn đạt của chúng tôi là không đạt yêu cầu. Cho nên các vị khôngng hiểu.
52:22 Cho nên phải nói rõ chỗ này phải nhận cái trách nhiệm là về mình khi mình học về cái môn nhân minh học này. Đây là luận lý học. Mình luận lý thế nào mà để cho người ta không hiểu, đừng bao giờ đổ thừa người khác mà mình phải luận lý đến nơi đến chốn. Có thể là trình độ chúng ta đổ thừa là trình độ mỗi người mỗi khác. Ví dụ như bây giờ mình đem cái câu chuyện này mà nói cho cái người trình độ cấp một và nói cho người trình độ cấp hai, cho người trình độ cấp ba thì chúng ta thấy cấp ba nó còn dễ dễ hiểu, cấp hai nó còn đỡ đỡ, cấp một là mình nói hồi tiếc luôn. À có nghĩa rằng chưa chắc là mình nói mà nó hiểu được. À nói đến cái chỗ này, chúng tôi nhớ đến câu chuyện của giáo sư
53:08 Hoàng Tiểu Khang. Không biết các vị có nghe tên ngài không? Có một lần cái năm đó chúng tôi cũng vẫn còn đang học học viện và giáo sư Hòa Tiểu Khang đã dạy chúng tôi và trong lớp đã kể câu chuyện thế này. Vợ của ông giáo sư cũng là giáo viên nhưng mà giáo viên mẫu giáo. Và hôm đó cô bị bệnh và cô mới nhờ à giáo sư đi giả dùm cho mình. Và giáo sư nghe nói mình là giáo sư đại học mà bây giờ dạy cho mẫu giáo chả lẽ dạy không được cho nên ông nhận lời. Nhưng mà sau khi ông nhận lời xong chiều về ông bơ phờ. Ờ vợ ông mới hỏi sao ông bơ phờ dữ vậy.
53:55 Nói tại sao em dạy dỗ dữ vậy? Giáo sư tới giờ trưa kêu nó ăn cơm nó không ăn, kêu nó ngủ nó cũng không ngủ. Có nghĩa rằng giáo sư dỗ hết từng đứa từng đứa mà dỗ hết rồi là bơ phờ luôn. Và có nghĩa rằng cái nghiệp vụ của một vị giáo sư dạy cho các sinh viên đại học thì được. Nhưng mà nghiệp vụ đó dạy cho các em mẫu giáo thì nó lại học vô. Dùng cái tư tưởng lý luận triết học quá cao siêu các bé đâu có chịu nổi. Như vậy thì làm thế nào để cho các bé hiểu được? thì các vị giáo viên mẫu giáo được đặt cách chuyên ngôn nghiên cứu về cái môn này. Từ ngay đó cho nên cái phương pháp sư phạm có nên dạy các em rất dễ nhưng
54:42 một người khác vô dạy là không dễ. Vì cái lý luận của chúng ta nó phải thay đổi tùy theo trường hợp. Ví dụ như lý luận của chúng ta gặp đại học thì phải nói đại học, gặp cấp ba phải nói cấp ba, dạy cấp hai phải nói cấp hai. Và đây là cái trách nhiệm của một người mà gọi là nhân minh học. Luận lý học phải nói theo đúng trình độ chứ không phải là cứ thế mà nói chỉ cần biết tôi đúng là được rồi mà không dựa trên cái chỗ tôi đúng. Mà Lư Scọc là đang hỏi là chúng ta nói người khác có hiểu hay không. Nếu nó hiểu thì ta gọi đó là đúng. Còn nếu nó chưa hiểu thì ta gọi đó là không phải logic học. À cho nên logic học là gì? Là
55:29 làm thế nào luận lý để cho người ta hiểu được và phải tùy theo đối tượng. đối tượng đó phải hiểu đến nơi đến chốn và phải nói phù hợp với từng đối tượng mẫu giáo. Chúng ta nói theo kiểu mẫu giáo hạ thấp xuống chứ không thể nói theo kiểu của sinh viên đại học được. Và đây là cái trách nhiệm của nhân minh học. Chúng ta sang phần hai La Mã. Chúng ta sẽ nói về nhân minh học cũ và nhân minh học mới. Nhân Minh học có mặt lâu đời ở tại đất
56:14 nước Ấn Độ và trước thời kỳ Đức Phật ra đời và gọi đó là nhân minh học cổ. Còn nhân học mới đó là nhân học mà về sau này nó mới phát hiện ở tại đất nước Ấn Độ và người đã phát minh ra đó lại là một tu sĩ Phật giáo. Và từ đó à cho nên hai cái tư tưởng nhân minh này à người ta gọi là cũ và thứ hai là mới. Và ngay cả cái tư tưởng mới là chân minh học của Phật giáo này đã được tất cả người dân Ấn Độ họ chấp nhận. Họ không gọi đó là nhân minh học của Phật giáo mà họ gọi là nhân minh học của Ấn Độ nhưng mà mới có nghĩa rằng được mọi người tiếp nhận
57:00 vì à cái nhân mình học mới được cải cách, được nhìn nhận và nó luôn luôn đúng. Trước đây trước khi mà Nhân Minh học mới ra rồi các thầy cũng đi lý luận nhưng mà các thầy lý luận nhiều lúc cũng bị thua. Lý do tại sao thua? Bởi vì có những cái lý luận nó không vững chắc và nó có những cái lỗ hủng và từ đó cho nên không được chấp nhận. Và người mà đặc biệt mà bị thua đó là ngài Trần Nan. Ngài thua hoài, thua hoài từ đó ngài mới nghiên cứu tại sao mình thua. Thắng thì ít mà thua thì nhiều.
57:45 Ngài nghiên cứu và cuối cùng ngài mới phát hiện ra. Và từ đó ngài đã viết ra một cái nhân minh học mới. Và cái nhân minh học này đã bao biển tất cả những cái sai lầm của nhân minh học cũ. Và do vậy cho nên về sau ngài đi tới đâu là thắng đến đó. Và từ đó ngài được đề cử làm viện trưởng của học viện tại trường Đa học Nan Đà. Và những năm đó sinh viên ở khắp mọi miền đất nước Ấn Độ về quy tụ rất đông bởi vì mang cái tiếng của ngài nhờ các cuộc tranh lục đó. Và cũng từ đó mà nhân học mới đã xuất hiện ở tại đất nước Ấn Độ và cho tới bây giờ họ chỉ biết gọi đó là nhân minh học
58:31 mới. Như vậy thì nhân minh học cũ và nhân minh học mới nó có gì sai biệt? chúng ta tìm hiểu một chút về à nhân minh học cũ. Lúc bấy giờ do một à vị người Ấn Độ và ở một cái vùng gọi là à Ca Tỳ La. Ca Tỳ La Vệ là một cái tên mới về sau ở thời kỳ Đức Phật. Nhưng mà trước đó nữa thì cái vùng đất đó được gọi là Ca Tỳ La. Và người sáng lập ra là cũng là trong dòng họ của Đức Phật cũng dòng họ là
59:19 Gotama là Cừu Đàm. Và vị này à ngài khi sinh ra có một cái vị tướng, vị tướng rất đặc biệt đó là ở dưới chân của ngài có con mắt. Bình thường chúng ta có con mắt ở trên thôi nhưng mà vị này sinh ra lại có con mắt ở dưới chân. Không biết các vị có con mắt dưới chân không? Có không hả? Đúng. Mắt cá. Nhưng con mắt cá của các vị chỉ gọi con mắt cá thôi chứ còn con mắt này không có mở được. Trong khi đó ngài à C à K Gotama thì vị này lại có một vị tướng là
1:00:05 con mắt cá đó có thể chớp chớp được y như con mắt. Và từ đó khi ngài sanh ra và cha mẹ của ngài mới đặt tên cho ngài à với cái tên là à Gotama và chết ra tiếng Trung Quốc được gọi đó là túc mục và đó chính là túc là là chân, mục là con mắt và con mắt dưới chân tức là ngài là có một chị tướng như vậy. Chúng ta là chỉ con mắt cá thôi. Con mắt đó chúng ta gọi thôi chứ còn chúng ta không có chớp chớp được. Còn ngài là chớp chớp và thấy được luôn. Với cái vị tướng đó cho nên ngài đã viết lên một cái nhân minh học và nó trở thành một cái sườn dành cho tất cả mọi người dân
1:00:50 Ấn Độ từ mọi giai cấp, từ mọi tôn giáo, từ cái giai cấp à cho đến mọi tôn giáo đều học về nhân minh học này và ai cũng thích thú. À cho nên ngài có thể được xem là một trong những người sáng lập ra một cái môn nhân minh học, luật lý học ở tại Ấn Độ và ta gọi chung đó là luận lý học của phương Đông. Về à cái luận lý học này ta còn gọi cái tên khác đó công thức bình thường á thì chúng ta nói lý luận chúng ta tưởng rằng như là nói không có công thức nhưng mà thật ra là do chúng ta trình độ kém cho
1:01:37 nên chúng ta nói học công thức nhưng mà khi chúng ta học xong cái môn này rồi thì trong tương lai chúng ta sẽ là một trong những cái nhà gọi là nhân minh học mở miệng ra là có công thức tức là nói phải có công thức chứ không phải là nói như chúng ta là muốn nói gì nói khi cũng đúng có khi cũng trật lất nhưng mà trật lất nhiều hơn đúng. Còn à người mà có được cái công thức thì
1:02:24 lúc bấy giờ nói chắc chắn là đúng. Bởi vì sao? Công thức đúng thì nó sẽ đưa đến một cái luật lý đúng. Và cái công thức lúc bấy giờ mà ngài Túc Mục đưa ra nó gồm có năm. Một đó là tôn, hai là nhân, ba là dụ, bốn là hợp và năm là kết. Đây là cái công thức công thức luận lý khi viết một bài văn cũng phải dựa trên công thức này. Khi nói chuyện trước đám đông cũng dựa trên nền tảng của công thức này chứ không phải là lúc mà viết văn thì có công thức nhưng mà lúc nói thì không có công thức. nói hay viết đều phải dựa trên công thức này. Nhiều lúc chúng ta
1:03:09 không hiểu được cái chỗ này thì chúng ta nói người ta không hiểu. Cho nên ở bên các trường đại học bên ngoài họ gọi cái môn này đó là phương pháp sư phạm. Sư phạm là gì? Là cách nói theo trình tự để cho người khác hiểu. Mình phải nói theo trình tự nói thế nào để cho người ta hiểu. Và không gọi cái môn đó là môn nhân minh học mà gọi đó là sư phạm. À như vậy sư phạm là gì? Sư phạm là làm thế nào diễn đạt và người ta hiểu được. Và tuy nhiên ở bên ngoài trường đại học sư phạm họ sẽ tùy theo những vị nào mà thù cấp một, cấp hai, cấp ba và cấp mẫu giáo và có sư phạm khác nhau. Tức là cũng theo một cái trình tự và công thức
1:03:54 đó có thể thay đổi cho nó phù hợp và cái ngôn từ cho nó phù hợp với từng cái ngôn ngữ của từng cấp để cho các em ở mọi lứa tuổi có thể hiểu được. Nhưng mà về công thức chung nó vẫn là năm yếu tố. Một là tôn, hai là nhân, ba là dụ, bốn là hợp và năm là kết. Ví dụ như âm thanh là vô thường. Cái chữ tôn mà khi nói âm thanh là vô thường thì cái tôn này nó có nghĩa là tôn chỉ. Tôn chỉ tức là cái ý mà chúng ta muốn nói và đưa nó lên điểm cao nhất. Cho nên ta gọi đó là tôn.
1:04:41 Tôn là điểm cao nhất. Và cái ý chúng ta muốn nói, ví dụ chúng ta muốn nói điều gì? Hôm nay chúng tôi sẽ nói về đề tài âm thanh là vô thường. Như vậy thì cái tựa đề đó chính là tôn chỉ hay gọi tắc đó là tôn. Cho nên cái tôn đó gọi là tôn chỉ. Nhưng mà khi chúng ta nói trong cái tôn chỉ là cái tựa đề rồi thì chúng ta tại sao phải nói môn đó? Chúng ta phải qua cái nhân. Nhân ở đây là nguyên nhân. Vì sao? Vì âm thanh là cái được làm ra. Tại sao chúng ta nói âm thanh là vô thường? Vì âm thanh là cái được làm ra. Nhưng mà sau khi đưa ra cái nhân là
1:05:27 nguyên nhân rồi, chúng ta phải sang bước thứ ba đó là dụ phải có ví dụ cụ thể như là cái bình. Cái bình là cái được làm ra và cái gì được làm ra thì cái đó phải vô thường. Chẳng hạn như nó rớt xuống đất nó sẽ bị bể, nó bị mẻ, nó bị hư. Phải chứng minh. Và sau khi chứng minh rồi chúng ta mới hợp. hợp là bắt đầu ta nói lại nguyên câu âm thanh là vì cũng được làm ra cho nên cũng bị vô thường. Cái bình được làm ra âm thanh là cái cũng được làm ra cho nên nó cũng vô thường. Đây là học và cuối cùng kết. Do vậy âm thanh là vô thường.
1:06:15 Tại sao chúng ta phải chứng minh âm thanh là vô thường? Bởi vì ở Bà La Môn giáo có một cái trường phái họ cho rằng âm thanh là thường còn. Họ lý luận tại sao là thường còn? Bởi vì âm thanh nó giống như là hư không. Hư không là không màu, không mùi, không vị. Và từ đó hư không hiện nay là thường còn. Hư không là thường còn. Nó không màu, không mùi, không vị, không hình tướng. Và âm thanh chúng ta thấy nó cũng không màu, không mùi, không vị, không hình tướng. Cho nên hai cái này tương đối gan giống như nhau. Do vậy cho nếu như hư không là thường còn thì âm thanh phải là
1:07:02 thường còn. Và cho tới giờ phút này họ vẫn giữ nguyên một cái quan điểm tương tự như vậy. Tức là cái quan điểm đó vẫn không có gì thay đổi. Họ giữ nguyên và họ mặc dù là lúc bấy giờ cái tư tưởng này đã tới tay Đức Phật và Đức Phật đã nói lại âm thanh là vô thường. Và nguyên nhân Đức Phật nói bởi vì nó được làm ra nhưng mà bà la môn họ vẫn chấp thủ với quan điểm của họ. Và từ đó cho nên nếu họ chấp thủ rồi thì thôi quan điểm đó thì hồn ai nấy
1:07:49 giữ à ai muốn nói gì nói nhưng mà lý luận của Đức Phật rất là hợp lý bởi vì âm thanh đúng là cái được làm ra hư không không ai làm ra nhưng mà âm thanh là được làm ra ví dụ như âm thanh người nam âm thanh người nữ là khác nhau âm thanh người nam mỗi người nói giọng cũng khác nhau không có người nào giống người nào hết Các vị thấy ở trên thế gian này có bao nhiêu tỷ người? Hơn 7 tỷ người là 7 tỷ giọng nói khác nhau, không có ai giống ai. Như vậy thì âm thanh của mỗi người tự làm ra và nó có sai biệt. Như vậy thì nó là cái làm ra nó không phải là cái giống nhau hết. Còn hư không là giống nhau hết bởi vì nó không phải
1:08:34 là cái được làm ra. Nhưng họ vẫn cho rằng âm âm thanh là thường còn lý do âm thanh là không có hình tướng. Họ nói như vậy âm thanh đúng là không có hình tướng nhưng mà không hình tướng nhưng mà âm thanh đó là cái được làm ra. Và từ đó cho nên cái câu âm thanh là vô thường. Nó là một trong những cái vấn đề luận lý lớn ở tại đất nước Ấn Độ. Cho nên câu này các vị sẽ thấy được đưa vô rất nhiều lần bởi vì cái tư tưởng nó trái ngược à cho nên Đức Phật mới lòng vào âm thanh là vô thường. À như vậy thì chúng ta thấy nhân minh cũ
1:09:20 là có công thức dựa trên năm yếu tố là tôn, nhân, dụ, hợp và kết. Và với cái công thức của nhân minh học mới thì chúng ta thấy có sự sai biệt rất lớn. Sai biệt đó là gì? Bởi vì công thức mới của ngài Trần Na đơn giản hơn, nó chỉ công thức có ba thôi. Một là tôn, hai là nhân, ba là dụ. Phần hợp không cần, phần kết không cần. Vì phần kết với phần tôn là giống nhau. Ví dụ như ở phần trên hồi nãy chúng ta
1:10:06 nói âm thanh là vô thường, kết là do vậy âm thanh là vô thường có cần nói lại hay không? À cho nên đây là một trong những cái cách ngài Trần Na làm ngắn gọn. À cho nên các vị thấy có nhiều bài diễn văn dài lê thê. Thật ra những bài diễn văn đó là đang viết trên cái công thức tôn nhân, dụ hợp và kết cho nên nó dài lễ thê. Các thấy các vị thấy đoạn trên đã nói rồi nhưng mà đoạn dưới do cái chữ hợp chúng ta ghép lại trên dưới ta ghép lại thành một câu và cái câu này nó nghe nó bị nhàm bởi vì nó lọc lại cái ý của câu trên. Cho nên ở đây ngài Trần Nga cắt phần hợp và phần kết không cần nói lại
1:10:53 phần dụ như cái bình là kết thúc. Như vậy thì người ta sẽ hiểu được là tôn là tôn chỉ đầu tiên cũng là phần kết âm thanh là vô thường. Như vậy thì nó vừa ngắn gọn và nó đòi hỏi người hiểu phải tư duy. Còn với phương cách mà năm bước thì lúc bấy giờ người à người ta sẽ được nghe cái lời hợp và phần kết nhưng mà cái phần đó nó sẽ khiến cho những người khác cảm thấy dài lê thê. Và cái phong cách mới của ngày nay các vị thấy các vị lãnh đạo lớn từ trong Phật giáo cho đến ở ngoài lên phát biểu khai mạc không có nói vài dòng lê thê vô
1:11:41 nói một cách ngắn gọn nội dung dựa trên công thức tôn nhân và dụ song. Cho nên đây là một trong những phương cách rất đặc biệt mới và từ đó cho nên đây là một trong những nhân minh học mới. Nhưng mà có nhiều người nói nếu như ngài mà Trần Na mà cắt bớt hai phần đó và đưa công thức từ năm bước là ngũ chi tác pháp và trở thành tam chi tác pháp chỉ có ba phần thôi thì cái chỗ này dễ quá con làm cũng được mắt mớ vì ngài làm chi cho nó mệt có nghĩa chúng ta tự mình cắt bớt hai phần là được rồi nhưng mà cái công trình nghiên cứu của ngài không chỉ dừng lại ngay cái chỗ cắt bớt đó.
1:12:27 Cái phần cắt bớt đó chỉ là tóm tắt thôi. Còn cái công trình nghiên cứu của ngài làm thế nào để không bị một cái lỗ cái lỗ hủng, không bị một cái sai phạm. Đó chính là cái cái tư duy mới của một cái nhân minh học. Như vậy thì cái tư duy mới đó là gì? Đó là sự khác nhau về nội dung giữa năng lọc và sở lập. Ví dụ như trong cái môn nhân minh học phủ, chúng ta sẽ được nghe lý luật là phần tôn, phần nhân, phần dụ là phần một, phần hai, phần ba đều là phần năng lọc. Còn phần mà thuộc tính của tôn tức là tôn y học trật mới là sở
1:13:15 lập. Ví dụ trong phần tôn nó gồm có hai phần, phần đầu và phần sau. Ví dụ âm thanh là vô thường. Thì cái phần âm thanh, cái phần âm thanh đó ta gọi bình thường theo tiếng Việt ta gọi đó là chủ ngữ và âm thanh là vô thường thì ta gọi đó là vị ngữ. Và nếu tôi ghép lại thì ta gọi đó là một câu. Cái chỗ này tiếng Việt của chúng ta người nào cũng quá rạch. Nó một câu mà muốn hoàn chỉnh thì nó gồm có chủ ngữ và nó phải có vị ngữ. Còn nói theo tiếng Anh nó cũng na ná có subject và nó phải có object. Nó hai phần là phải rõ ràng.
1:14:04 Còn nguyên một câu thì ta gọi đó là một mệnh đề. à nó phải rõ ràng như vậy. Và cái phần nhưng mà cái cách gọi này là của Việt Nam còn cách gọi của Ấn Độ thì họ không gọi là chủ ngữ, không gọi là quỷ ngữ mà họ sẽ gọi cái phần chủ ngữ là phần phía trước. Tại nó đứng phía trước cho nên gọi là phần trước. Còn cái phần vị ngữ gọi là phần sau. Và cách gọi này nó na ná với cái cách gọi của người Trung Hoa. Người Trung Hoa họ cũng không gọi chủ ngữ, vị ngữ mà họ gọi là phần trước và phần sau. Và phần trước của người Trung Hoa họ gọi đó là tiền và phần sau họ gọi đó là hậu. Và vì trong một cái câu đó là đang chuyển tả cho trần cảnh từ đó cho nên họ
1:14:50 gọi đó là tiền trần và thậu trần. À cho nên đối người Ấn Độ gọi phần trước phần sau. Người Trung Hoa gọi là tiền tiền trần thậu trần. Đối với người Việt Nam thì ta gọi đó là chủ ngữ và vị ngữ. Đối với những người học tiếng Anh thì ta gọi đó là subject hay là object. À nhưng mà cách gọi nào thì chúng ta thấy nó cũng gần như tương đương, chỉ nó khác nhau về ngôn ngữ mà thôi. Ta cũng sẽ phân định ra là hai phần. Như vậy thì ở phần tôn, phần nhân, phần dụ ta gọi đó là phần năng lập. Năng lập là gì? Năng lập là có khả năng lập luận. Đưa ra cái khả năng lập luận là cái đã
1:15:37 có và từ lấy cái có để mà đưa ra cái chưa có. Tức là luận lý là gì? Là ta nói những gì đã có để rồi ta đưa ra cái kết luận là những gì chưa có. Nhưng đối với phần nhân minh học phủ cho rằng phần tôn, phần nhân phần vũ là đã có. Nhưng mà nếu chúng ta nghe như vậy thì chúng ta thấy nó bất hợp lý bởi vì phần kết nó chính là phần của tôn mà phần kết chưa có tại sao phần tôn lại có? À cho nên chúng ta thấy cái chỗ này nó nhập dằng và từ đó cho nó khiến cho luận lý của chúng ta nó bị rối rắm. Không biết là ta nói một hồi rồi ta
1:16:23 không biết là cái nào đã có và cái nào là chưa có. Bởi vì tôn là cái chưa có. Cái chưa có chúng ta mới nói ra. Mà bây giờ cái chưa có mà chúng ta cho rằng nó đã có là cái năng lập, cái mà để chúng ta đưa để mà lập luận thì cái chỗ này nó đang nhập nó không ổn. Rồi cái mà chúng ta muốn nói luận lý ở đây theo nhân minh học cũ đó là cái phần thứ hai của tôn. Ví dụ như âm thanh là vô thường. Họ chỉ nhấn mạnh mình đang luận lý về hai chữ vô thường. Nhưng mà thật ra cái nào vô thường, cái nào không vô thường. Cái đó mới là quan trọng. Cho nên về à thuộc tính của tôn đó là phần sở lập là cái mà chúng ta chưa biết
1:17:09 và cái chúng ta muốn tìm hiểu thì nếu nói về vô thường mà cần tìm hiểu nó không phù hợp đối với cái tinh thần của Phật giáo. Cho nên đây là cái chỗ sai rất lớn giữa nhân minh học cũ và nhân minh học mới. Và từ đó cho nên ngài Trần Na đã đưa ra một cái luật lý khác nhân hoạch, nhân minh học mới. Chỉ có nhân với dụ là phần năng lập là cái đã biết. Còn phần tôn là cái chưa biết. Cái chưa biết đưa ra đầu tiên và nó cũng chính là kết luận.
1:17:56 Và chính cái nhận định này khiến cho lập luận của ngài về sau phần nào chưa biết và phần nào đã biết rất rõ ràng và từ cái chưa biết và lập luận để đi tới cái chưa biết. Còn cái chưa biết mà chúng ta lập luận làm sao ra được cái chưa biết. Cho nên cách lập luận này không đúng. Phải lập luận từ cái đã biết và dẫn họ cuối cùng tới cái chỗ chưa biết. Đó mới là lập luận đúng đắng. Và phương Tây họ dựa trên nền tảng lập luận này mà họ rất là thành công. Và nó đã trở thành một cái kiến thức chung logic học của phương Tây và hiện nay nó trở thành là một kiến trúc kiến
1:18:45 thức chung cho nhân loại Việt Nam của chúng ta cũng học môn này và không có gọi đó là logic học phương Tây mà chúng ta gọi đó là logic học chung mà thôi. Lý do là nó đã trở thành kiến thức chung cho toàn dân loại. Nhưng hiện nay các trường đại học bên ngoài chúng ta đang bỏ qua một cái môn được gọi là nhân minh học phương đông. Chúng ta chạy phương tây, phương tây được chấp nhận nhưng mà phương đông thì lại chưa chấp nhận. Và đối với nh đối với môn logic học của phương Đông thì được xem như là một cái môn logic học của tôn giáo, nó của Phật giáo hay là của Bàla Môn giáo. À tuy nhiên cách nhìn này không đúng
1:19:32 đắng. Nó chính là một luận lý chung và cái luận lý này của ngài Trần Na. Và cái luận lý của ngày Trần Nai với luận lý của phương Tây gần như là tương đồng và thậm chí nó còn ưu việt hơn. Nó tương đồng nhưng mà nó ưu việt hơn. Ư việc thế nào thì chúng ta sẽ lần lượt để tìm hiểu. Trong một câu, nếu chúng ta nói âm thanh là vô thường thì chúng ta gọi cái câu này là tôn là tôn chỉ. Thì cái phần âm thanh là phần mà chúng ta gọi là chủ ngữ
1:20:18 thì nó được gọi đó là tôn y tiền tật. À đó là người Trung Hoa gọi đó là phần phía trước, còn người Ấn Độ gọi là phần đầu. Họ gọi là phần một, phần hai. À cho nên chúng ta sẽ thấy có một số sách gọi đây là phần một, một số sách gọi đây là phần hai. Còn người Trung Hoa gọi là tiền và hậu. À cho nên các vị muốn gọi cách nào cũng đúng. Các vị gọi phần một cũng đúng, gọi phần hai cũng đúng. Các gọi gọi là tiền trần cũng đúng, các vị gọi là hậu trần cũng đúng mà các vị gọi là chủ ngữ cũng đúng và vị ngữ cũng đúng. Nhưng ở đây trong cái bài này chúng ta sẽ gọi với cái cách gội chung mà các
1:21:05 nước như Ấn Độ và Trung Quốc họ đã sử dụng. Đó là phần trước, phần sau, phần đầu hay là phần sau. Cho nên cái phần đầu đó ta gọi là tôn y tiền trần. Tiền trần này nó nằm ở trong phần tôn y. Tôn y là gì? Y là y cứ tức là phần tiền tần này nó y cứ ở phần tôn chỉ. À cho nên ta gọi tắc đó là tôn y tiền trần. Còn phần hai ta gọi đó là hậu trần vì nó y cứ vào ở phần tôn à cho nên ta gọi đó là tôn y tiền trần và tôn y hậu trần. Và hai phần này cộng lại nó sẽ thành ra một cái câu được gọi đó là tôn thể. Hay ta gọi đó là theo tiếng Việt đó
1:21:52 là câu hay ta gọi trong tiếng Anh đó là mở đề. Và trong cái lý luận của Phật giáo là lý luận nguyên một câu thanh thanh là vô thường chứ không phải là chỉ lý luận về hai chữ vô thường. Bởi vì vô thường ai cũng hiểu. Vô thường à đối Phật giáo chúng ta hiểu nhưng mà thuật ngữ vô thường dịch nghĩa ra đó là sự thay đổi.
1:22:39 Cái chữ thay đổi có đâu không hiểu, ai cũng hiểu hết. nói chữ thay đổi người nào cũng hiểu nhưng mà vì muốn cho cái chữ thay đổi nó văn vẻ hơn cho nên ở đất nước Ấn Độ dùng cái thuật ngữ đó là vô thường tức là không có thường cò hay là nó luôn luôn thay đổi. Như vậy thì thuậc ngữ đó không có cái gì để mà chúng ta tìm hiểu mà nhân minh học cũ họ đã sử dụng. Như vậy thì cái mà chúng ta nói vô thường ở đây là cái gì vô thường? Âm thanh là vô thường. Nguyên một câu ta chứng minh một câu âm thanh là vô thường chứ không phải là chứng minh một cái khác. Như vậy thì cái mà nhân minh học mới
1:23:24 đang muốn đề cập đó chính là tôn. Thay đổi về một cái tôn và cho người ta hiểu rõ về một cái tôn. Tức là phải hiểu rõ về tôn thể nguyên một câu chứ không phải chỉ là một một phần của tôn y hoặc là tôn y tiền trần hay là tôn y hậu trần. à những cái vấn đề mà tôn y tiền trần hay tôn y học trật à đây là một cái điểm khó của nhiều người. Ví dụ như chúng ta có ngồi trên lớp chúng ta nghe thì may ra chúng ta hiểu. À còn nếu vị nào mà không ngồi trên lớp à mà chúng ta tự đọc
1:24:11 có khi không hiểu nổi à tự đọc chúng ta không hiểu tại sao gọi là tôn y à gọi là tôn y tiền trần tại sao tôn y họng trần thì cái chỗ này là cái chỗ khó mà nhiều người vì cái chỗ khó này cho nên cuối cùng không hiểu được cái cái thuật ngữ và không hiểu được thuật ngữ cho nên về sau không hiểu được cái nội dung như vậy thì cái điểm khó ở đây đó chính là phục ngữ Nhưng mà có người sẽ đề nghị với chúng tôi tại sao không đổi ra thuật ngữ tiếng Việt nói tại chủ ngữ vị ngữ cho nó dễ. Vì đây là một cái môn học mà của phương Đông cho nên ta phải gọi theo thuật chung của các nước để từ đó trong tương lai chúng ta còn là những nhà học giả
1:24:58 quốc tế, chúng ta đi tranh luận với nước ngoài chứ không phải ngồi tranh luận trong nhà thôi. À cho nên chúng ta phải biết thuật ngữ sử dụng quốc tế là gì à chứ còn nếu không thì chúng ta chỉ biết trong nhà nhưng mà từ chỗ quốc tế chúng ta sẽ dịch thuật ra bằng cái ngôn ngữ trong tâm của chúng ta đó là chủ ngữ và vị ngữ hoặc là chúng ta sẽ nói là chủ ngữ logic và thứ hai đó là vị ngữ logic à đó là ý nghĩa trong tâm của chúng ta còn trên phương diện văn bản thì chúng ta vẫn gọi đó là tôn Tìm trần và tôn y hậu trần. Và đây là cái chỗ khó để mà chúng ta đi vào không thấy lối vào. Tức là do chúng
1:25:44 ta bị vướng mắt vào thuộc ngữ và cuối cùng không nắm được cái nội dung. Như vậy thì chúng ta thấy có hai ý ở Nhân Minh học cũ điểm tranh luận đó là phần tôn y tiền trần hoặc xin lỗi tôn y hậu trần trong khi đó nhân minh học mới điểm tranh luận là sự liên kết của hai phần và ta gọi chung đó là tôn thể hay là một mệnh đề. Đây là cái chỗ khác biệt và cái chỗ khác biệt này nó vô cùng quan trọng. Nó khiến cho đối với các thầy Phật giáo về sau với
1:26:30 cái luật lý học mới và đã thắng như trẻ tre khi tranh luận luận lý bất cứ chỗ nào đều thành công. Bởi vì nó làm rất rõ ràng cái nào là cái đã có và cái nào là cái chưa có. và phải đi lý luận từ cái chưa có để đi tới chỗ đã có. Xin xin lỗi, từ cái đã có đi đến chỗ chưa có. Không lý luận từ một cái chưa có để mà đi đến cái chỗ đã có như là nhân minh học phụ. Tức là tôn là cái chưa có mà đem nó ra để lý luận càng nói càng sai. Và phần tôn không được nói, phần nhân phải nói, phần dụ phải nói và đi từ cái
1:27:18 đã có để đi tới chỗ chưa có. Đó là Phật tôn. Đây là cái chỗ khác biệt rất lớn. Đó là chúng ta nói về à tôn về à phần nhân minh học cũ họ đã phân biệt ra có chín loại. Có chín loại chín loại chín loại này là chính loại có khả năng sai lầm đưa đến phần nhân bị sai. Tuy nhiên, nhân minh học mới, ngài Trần Na tìm ra thêm một số lỗi khác của nhân
1:28:06 và tổng cộng ngài có được 14 loại. Đây là một phát minh rất mới. Bởi vì có những cái nhân mà tưởng chừng chưa đúng nhưng mà nó là sai. Và ngài đã tìm ra được thêm sáu loại từ chín à thêm năm loại nữa. Và tổng cộng là có 14 loại sai lầm của nhân. Từ khi tìm ra được 14 loại của nhân sai và từ đó không còn sai nữa và nhân lúc nào cũng đúng. Đây là cái phát triển mới của ngài Trần Na. Nó khác với
1:28:51 nhân minh học phủ của Ấn Độ của nhân Minh học phương Đông. Về phương pháp luận lý của nhân minh học mới là của Phật giáo là tìm ra nó bao nhiêu loại và lội trừ tất cả những cái sai lầm. Và như vậy thì khi mà nó không nằm trong các lỗi sai lầm thì nó có nghĩa là đúng. Làm thế nào để biết luận lý đúng? Ở đây không có cách nào để biết luận lý đúng. Ngoại trừ loại trừ tất cả những sai lầm thì ngoài cái những sai lầm đó thì ta gọi đó là đúng.
1:29:43 Nó khác với toán học. Toán học số nào ra số đó. 1 + 1 phải là 2 là chắc đúng, không cần phương pháp lội trừ. Nhưng trong luận lý học ta phải dùng phương pháp lội trừ, lội trừ 14 cái sai lầm thì của nhân lúc bấy giờ chúng ta sẽ có cái nhân hoàn toàn đúng đắng. Và cái nhân đúng ta gọi chung đó là chân. Chân là nó gần với chân lý. Và cái mà nó gần đúng thì ta gọi đó là tợ như là tương tợ. Nhưng mà trong toán học á thì chữ tương tự chấp nhận được ví dụ như chí điểm 5 hay chí điểm 79 điểm 8 có thể làm tròn là 10. Nhưng trong đối
1:30:28 với logic học chữ tương tự phải xác định rõ nó là chữ sai không được gọi là gần đúng. Bởi vì trong logic học nó có một thuật ngữ đó là sai một ly đi một dậm. Không biết các vị có nghe câu này chưa? Hầu như ai cũng nghe. Và nhưng mà vấn đề là nghe áp dụng nó ở đâu? Áp dụng nó ở ngay cái chỗ logical. Trong toán học thì dùng cái chữ tương tợ là gần đúng được. Nhưng trong luận lý học một lời nói chỉ tương tợ thôi nhưng nó ra một cái nghĩa khác. Nếu vị nào là những nhà thâm thúy, chúng ta tìm hiểu về cái ngôn ngữ, về chữ nghĩa của đất
1:31:16 nước Trung Hoa, chúng ta thấy trong đó một trong một câu nó rất nhiều nghĩa trong đó mà thậm chí là có khi người ta dùng cái nghĩa thâm ý ở trong nữa. Nhưng mà ở đây cái câu thâm ý đó nó sẽ có nhiều nghĩa và nhiều nghĩa đó nó không rõ ràng. Và đối với nhân minh học là phải dùng chữ rõ ràng khẳng định để cho người ta xác định đó là đúng. Không nên dùng một cái câu thâm ý mà người ta muốn hiểu nghĩa nào nó ra nghĩa đó. Hiểu nghĩa đúng nó cũng đúng mà hiểu nghĩa sai nó cũng ra sai. À như vậy thì nhiều nghĩa quá nó sẽ không rõ ràng. Còn đối Phật giáo ta dùng nhân minh học đó là dùng chữ phải rõ
1:32:04 ràng, khẳng định, chính xác, đúng đắng, không được sai một ly. Bởi vì sai một ly là đi một vòng, càng đi càng xa. Bình thường lúc mà gần chưa đi thì ta thấy nó xa chút xíu thôi nhưng mà càng đi xa nó là hai đường càng lúc càng tách xa. cho nên không thể gọi là gần được. Từ đó chữ tương tợ trong logic học được gọi đó là sai hay là sai lầm. Cho nên chúng ta phải rõ ràng ở chỗ này. Không được phép nói chữ tương tợ. Ở đây dùng chữ tợ có nghĩa là sai và dùng chữ chân có nghĩa là đúng đắng.
1:32:52 Chúng ta sang phần chương 2. Bây giờ chúng ta sẽ nói về logic học Phật giáo. Trước hết chúng ta sẽ nói về phần một, định nghĩa và những lợi ích thiết thực của lương rức học Phật giáo là gì? Về à phần định nghĩa, lú xích học là một môn khoa học nghiên cứu về các quy luật và hình thức của tư duy hướng đến việc nhận thức đúng đắng, nhận thức hiện thực.
1:33:37 Đây là một định nghĩa chung và ở các sách Logic học của phương Tây cũng định nghĩa như vậy. Logic học là gì? Là một môn khoa học nghiên cứu về các quy luật và hình thức. Nhưng mà ở đây chúng ta thấy nhân minh học của Phật giáo nó có đặc trưng đó là chỗi quy luật nghiên cứu về quy luật và hình thức. Còn trong khi đó logic học của phương Tây nó nặng về hình thức mà
1:34:24 không tìm hiểu rõ được quy luật. À cho nên đây là cái chỗ khác biệt. Ví dụ như quy luật ở đây, Đức Phật đã tìm ra chẳng hạn như là quy luật nhân quả. Thì ở đây đối với nhân quả mà của Phật giáo nó trở thành một quy luật và nó rất rõ ràng. Còn ở phương Tây họ còn đang lờ mờ về luật nhân quả. Bởi vì luật nhân quả mà họ nói chỉ là trong hiện đời này thôi. Còn luật nhân quả của Phật giáo là một cái luật bất chi bất dịch từ đời này cho đến đời khác.
1:35:10 Cho nên đây là cái chỗ khác biệt bởi vì à đối với logic học khoa học là một môn nghiên cứu về quý luật và ngoài quý luật ra còn có thêm hình thức mà quý luật cái gì và hình thức của cái gì của tư duy. À cái chỗ này là chúng ta thấy ít có cái nơi nào mà tìm hiểu như vậy. Tức là tư duy của chúng ta trước đây chúng ta để cho tư duy chúng ta nó chạy lung tung, chúng ta không có nghiên cứu. Nhưng mà bây giờ chúng ta tới khi học môn này rồi thì chúng ta cần phải tìm hiểu nghiên cứu về các quy luật và hình thức của tư duy tức là tư tưởng của chúng ta. Để làm gì? Để đưa tới cái việc nhật thức đúng đắng hiện thực.
1:35:58 Tất cả những ai mà hiện nay nhận thức mà chưa đúng đắng, chưa hiện tục là do chúng ta chưa tìm hiểu, chưa nghiên cứu về quy luật và hình thức một cách đúng đấy. À nói như vậy thì à môn học lô học này nó sẽ dạy chúng ta điều gì? dạy chúng ta về tư duy đúng đắng, nhận thức đúng đắng, đồng thời cũng dạy cho chúng ta cách diễn đạt tư duy và nhận thức đúng đắng. Tức là sau khi chúng ta có được một cái tư duy đúng đắng, một nhận thức đúng đắng và chúng ta phải diễn đạt thế nào để cho người khác hiểu giống như mình.
1:36:48 Có khi mình hiểu nhưng mà mình nói không được. Chẳng hạn như có nhiều người tôi hiểu mà tôi nói không được. Thì cái chỗ này là do chúng ta chưa học được cái logic học trình bày như thế nào để cho người khác hiểu. À cho nên chỗ này nó phải có logic học. Tức là logic học là gì? Phải nói có công thức chứ không phải nói lung tung. Chúng ta nói lung tung nói vòng vòng vòng vòng vòng người ta không không nắm được và nói từ cái mà đã có để rồi đi tới chỗ chưa có. Còn chúng ta nói lung tung là nói vừa có cái đã có và cái chưa có. Nói vòng vòng vòng vòng vòng trong đó và cuối cùng ra không được, kết luận không được. Và người ta không hiểu, mình còn không hiểu, đừng nói là người khác hiểu. Có
1:37:35 nhiều người nói với chúng tôi là thưa thầy con nói mà nhiều lúc con tổ hiểu à làm sao người tac hiểu được. Có nghĩa rằng người ta sẽ không thể nào hiểu được. Muốn cho người ta hiểu thì ít nhất mình phải hiểu đến nơi đến chốn. Và người nào hiểu đến nơi đến chốn thì sẽ giải thích rất ngắn gọn và có cái hướng để cho người khác hiểu. Chúng ta sang điểm thứ hai đó là cái lợi ích của môn logic học này như thế nào. Và ở đây chúng ta thấy ngài Sakr Vamin có nói một câu, tức là thương yếp gia chủ có nói tất cả mọi hành động thành công của con người đều bắt đầu từ nhận thức
1:38:22 đúng đắng. Đây là một cái câu nói mở đầu và cũng là câu nói kết luận. Nếu chúng ta nắm bắt được cái câu này, chúng ta làm bất cứ điều gì cũng có lợi. Bởi vì sao? Tất cả mọi hành động thành công của chúng ta đều xuất phát từ một nhận thức đúng rắng. Nhận thức đúng rắn cái gì cũng thành công hết. Còn nhận thức mà đã sai thì mọi hành động kéo theo cũng sai. Hành động trong đó có tư duy, có lời nói và có hành vi. tất cả đều sai theo.
1:39:08 Cho nên một nhận thức đúng đắng là cực kỳ quan trọng. Và như vậy thì nhận thức đúng đắng này nó ở trong bất cứ lĩnh vực nào từ lĩnh vực giáo dục, chính trị, kinh tế hay là đời sống đều có lợi ích. Ngay cả trong việc học tập, nhận thức đúng rắng, nó cũng sẽ khiến chúng ta có sự sai biệt rất lớn. Ví dụ như chúng ta nói một cái bộ môn mà tiếng Anh ngôn ngữ nước ngoài. Thường thường là chúng ta thấy học sinh giỏi mà biết và ham học không bao nhiêu. Gần như là vào lớp là các em bị ép học
1:39:57 ép phải học đổi ngôn ngữ. Và cái cách ép đó là do chúng ta chưa làm việc công tác tư tưởng cho các em đủ. Bởi các em không thấy được cái quan trọng của cái môn học đó. Tức là từ cái chỗ chưa thấy rõ tầm quan trọng. Cho nên nhận thức của các em là không đúng đắng. Các em nói học để làm gì? Ví dụ như hoàn cảnh của những em giỏi nó có định hướng. Ví dụ cha mẹ định hướng là con ráng học đi mai mốt mà con giỏi mẹ sẽ cho con ra nước ngoài. Như vậy thì muốn ra nước ngoài thì phải có tiếng Anh. Từ đó cho nên bé có định hướng từ nhỏ và từ đó bé rất thích học vô tiếng Anh. Nhưng mà nếu gặp một cái gia đình nghèo à cha mẹ phải bán vế số
1:40:44 thì hỏi chứ em đó có định hướng đi nước ngoài hay không. Như vậy thì nếu không có định hướng thì em bé học tiếng Anh để làm gì? bé sẽ nói con đi lậm bịch nông đâu cần phải tiếng Anh chả lẽ cần lần lượt bịch nông nói tiếng anh cho nên nhận thức nhận thức đúng đắng không có cho nên bé những cái bé nào mà nghèo khổ định hướng không có bé không muốn học cái môn đó chỉ có một vài cho nên chúng ta sẽ phân rõ nhận sai lầm từ đầu sẽ làm cho các em không chịu chu học bản thân của tất cả các vị cũng vậy. Cần em nhỏ người lớn cũng vậy. Chúng ta học để làm gì? Tịnh hương chúng ta học.
1:41:32 Chẳng hạn như về sau này người ta có mở ra những cái lớp tiếng Anh cấp tóc để đi nước ngoài. Ví dụ như có một vài vị bây giờ thứ nhất là phải đi du học hay là thứ hai là dành cho các em đi định cư. Như vậy định cư là phải học thôi. Từ đó cho nên các em đăng ký vào cái lớp đó và hầu hết cái lớp đó vào học là rất tiến bộ vì cái nhận thức đúng đắng của các em là qua bên đó để ở. Cho nên ai cũng cố gắng học nhận thức rõ từng câu từng chữ cho nên rất dễ thành công. Còn nếu như trong cái nhận thức mà không có học để làm gì? Học để làm chi? À và với cái quan điểm như vậy thì không cách nào học được. Cho nên ở đây chúng ta thấy nhật thức là
…