Bài bản chất nhà nước TIẾT 4/5

Tóm tắt ngắn gọn

Video này trình bày về các dấu hiệu đặc trưng của nhà nước, giúp phân biệt nhà nước với xã hội nguyên thủy và các tổ chức khác trong xã hội có giai cấp. Năm dấu hiệu chính bao gồm:

  • Quyền lực công cộng đặc biệt
  • Quản lý dân cư theo lãnh thổ
  • Chủ quyền quốc gia
  • Ban hành pháp luật
  • Quy định và thu thuế bắt buộc

Giới thiệu

Bài giảng hôm nay sẽ trình bày về các dấu hiệu đặc trưng của nhà nước. Nhà nước chỉ ra đời khi xã hội phát triển đến một trình độ nhất định, khác với xã hội công xã nguyên thủy. Nhà nước tồn tại trong xã hội có giai cấp và có nhiều tổ chức khác, vậy làm sao để phân biệt nhà nước với các tổ chức này?

Quyền lực công cộng đặc biệt

Nhà nước cần có quyền lực để quản lý xã hội, gọi là quyền lực công cộng đặc biệt, thể hiện qua khả năng sử dụng sức mạnh vũ lực thông qua lực lượng vũ trang. Quyền lực tồn tại ở mọi xã hội, kể cả xã hội công xã nguyên thủy (quyền lực xã hội), nhưng quyền lực công cộng đặc biệt của nhà nước khác ở chỗ nó tác động phổ biến, được áp đặt lên mọi chủ thể trong xã hội, được thực hiện bởi bộ máy cưỡng chế chuyên nghiệp (quân đội, cảnh sát, tòa án, nhà tù), và độc quyền sử dụng sức mạnh bạo lực. Việc sử dụng quyền lực của nhà nước mang tính giai cấp, phục vụ lợi ích của giai cấp cầm quyền và định hướng xã hội phát triển theo mong muốn của nhà nước. Nhà nước là chủ thể giàu có nhất, có nguồn lực kinh tế, chính trị, tư tưởng lớn nhất, nên việc sử dụng sức mạnh của nhà nước mang lại hiệu quả lớn nhất.

Quản lý dân cư theo sự phân chia lãnh thổ

Nhà nước phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính và quản lý dân cư theo đó. Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, thị tộc quản lý thành viên dựa vào huyết thống. Nhưng khi nhà nước ra đời, do sự phát triển kinh tế xã hội, sự di chuyển dân cư, nhà nước không thể dựa vào huyết thống để quản lý mà phải chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính để quản lý hiệu quả hơn. Chỉ có nhà nước mới có thẩm quyền này. Ví dụ, Việt Nam có 63 tỉnh thành, 713 huyện và 10.732 xã, chia thành ba cấp chính quyền địa phương. Ở mỗi đơn vị hành chính, nhà nước thiết lập hệ thống cơ quan quản lý tương ứng, không phụ thuộc vào giới tính, độ tuổi, huyết thống, nghề nghiệp.

Chủ quyền quốc gia

Chủ quyền quốc gia là khả năng và mức độ tác động của quyền lực nhà nước tới cư dân và lãnh thổ. Khái niệm này chỉ thuộc về nhà nước. Nhà nước có chủ quyền quốc gia vì là chủ thể đại diện cho cư dân, cho quốc gia. Nhà nước độc lập, có chủ quyền trong quan hệ với các chủ thể quốc tế khác, không bên nào có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của bên nào. Lãnh thổ quốc gia là khoảng không gian tự quyết của nhân dân, nơi nhà nước thực hiện chủ quyền và quyền tài phán. Chủ quyền quốc gia được xem xét trên hai góc độ: đối nội (quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước) và đối ngoại (thiết lập quan hệ quốc tế).

Nhà nước ban hành pháp luật và xác lập trật tự xã hội

Nhà nước thiết lập hệ thống pháp luật để quản lý xã hội. Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành. Hiến pháp là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất. Pháp luật là công cụ quan trọng nhất để quản lý xã hội. Nhà nước đặt ra pháp luật, các quy tắc xử sự chung được áp dụng đối với tất cả các chủ thể. Nhà nước cũng phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Nhà nước đảm bảo pháp luật được thực hiện bằng nhiều cách thức, từ sự phù hợp về nội dung đến tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước.

Nhà nước quy định các loại thuế và thực hiện việc thu thuế dưới hình thức bắt buộc

Nhà nước quy định các loại thuế và thực hiện việc thu thuế dưới hình thức bắt buộc để có nguồn kinh phí hoạt động. Thuế là khoản tài chính mà các cá nhân, tổ chức phải đóng góp cho nhà nước theo quy định của pháp luật. Thuế là nguồn thu chính của ngân sách nhà nước. Bản chất của thuế là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, buộc các chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ của mình. Thuế là khoản thu không có đối khoản trực tiếp, nhà nước chi dùng tiền thuế cho nhiều mục tiêu khác nhau. Nhà nước thu thuế để duy trì bộ máy, đầu tư vào các lĩnh vực như y tế, giáo dục, giao thông, và thực hiện các chính sách xã hội. Khi tiền thuế không đủ chi, nhà nước có thể vay tiền của người dân, vay của nước ngoài và phát hành trái phiếu.

Summarize any YouTube video in seconds

Get summaries like this one for any video, in your language, with the free Summ app.

Download on the Apple Store
Get it on Google Play

Transcript

YouTube Transcript Generator

0:00 [âm nhạc] Xin chào các em. Những tiết học trước chúng ta đã nghiên cứu về khái niệm nhà nước, bản chất nhà nước. Chúng ta đã chỉ ra được những thuộc tính cơ bản của nhà nước quy định sự tồn tại, sự vận động và sự phát triển của nhà nước trong lịch sử. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Marin đã chỉ ra rằng

0:45 là không phải đâu có xã hội loài người thì ở đó có nhà nước. Mà xã hội mà nhà nước chỉ ra đời khi và chỉ khi xã hội đã phát triển đến một cái trình độ nhất định mà thôi, một cái giai đoạn lịch sử nhất định mà thôi. Vậy thì có nghĩa rằng là gì? Nhà nước nó chỉ ra đời trong một cái hình thái kinh tế xã hội. Nó khác với cái hình thái kinh tế xã hội trước đó là xã hội công xã nguyên thủy. Nhưng những cái nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhà nước nó lại nảy sinh ngay trong lòng cái xã hội công xã nguyên thủy đó. Vậy thì khi mà nhà nước ra đời nhà cái xã hội có nhà nước nó có điểm gì khác so với cái xã hội không có nhà nước trước kia hay không? Và nhà nước cũng chỉ tồn tại trong xã hội có giai cấp. Và trong cái xã hội này thì nó tồn tại rất là nhiều những cái tổ chức khác. Những tổ chức khác. Vậy thì giữa nhà nước và

1:32 những tổ chức khác trong xã hội có giai cấp nó có những cái đặc điểm nào để chúng ta có thể nhận diện rằng à đây là nhà nước còn kia chỉ là một tổ chức chính trị hay là một tổ chức xã hội mà thôi. Vậy thì nội dung chính của cái tiết học ngày hôm nay cô sẽ giới thiệu với các em về các dấu hiệu đặc trưng của nhà nước. nghiên cứu về cái sự xuất hiện, sự tồn tại và phát triển của nhà nước trong lịch sử thì người ta đã chỉ ra rằng là bất kỳ một cái nhà nước nào từ khi ra đời trong suốt quá trình tồn tại của mình và dù nhà nước đó ra đời ở thời kỳ cổ đại hay thời kỳ hiện đại, ra đời ở khu vực địa lý này hay địa vực khu vực địa lý kia, ở thời kỳ này hay là thời kỳ trước đó thì nhà nước đó đều có năm cái dấu hiệu đặc trưng cơ bản. Thứ nhất là nhà nước thiết lập một quyền lực

2:18 công cộng, tách rời khỏi xã hội và áp đặt đối với toàn bộ xã hội. Thứ hai là nhà nước quản lý dân cư theo sự phân chia lãnh thổ. Thứ ba là nhà nước có chủ quyền quốc gia. Thứ tư là nhà nước có quyền ban hành ra pháp luật. Và thứ năm là nhà nước quy định và thu các loại thuế dưới hình thức bắt buộc. Đây là năm dấu hiệu đặc trưng của nhà nước mà chúng ta có thể sử dụng để phân biệt với cái xã hội cộng sản nguyên thủy chưa có nhà nước cũng như để phân biệt giữa nhà nước với các tổ chức khác trong xã hội có giai cấp. Vậy thì cụ thể những dấu hiệu đặc trưng của nhà nước nó có nội dung như thế nào? Nó có đặc điểm gì vân vân. Vậy thì thứ nhất là quyền lực công cộng đặc biệt. Bất kỳ một nhà nước nào để có thể quản lý được xã hội thì cũng đều

3:04 phải có quyền lực. Và cái quyền lực mà nhà nước sử dụng trong xã hội có nhà nước, có giai cấp người ta gọi nó là quyền lực công cộng đặc biệt. Vậy thì quyền lực công cộng đặc biệt là gì? Nó chính là khả năng sử dụng sức mạnh vũ lực của nhà nước thông qua cái lực lượng vũ trang của nhà nước. Vậy thì quyền lực nó không phải là một cái hiện tượng mà nó chỉ xuất hiện trong xã hội có nhà nước mà nó xuất hiện có thể nói rằng là gì? ở mọi xã hội loài người. Vậy thì trong cái hình thái kinh tế xã hội đầu tiên là xã hội công xã nguyên thủy theo các em là đã có quyền lực chưa? Và nếu có thì nó tên gọi là gì và nó có những đặc điểm nào? À là trong lớp có bạn nào biết em? Thưa cô là xã hội đó đã có quyền lực xã hội. Cái đó gọi là quyền

3:49 lực xã hội. Cảm ơn em. Như vậy là một cái nguyên lý chung ấy là ở bất kỳ đâu có đối tượng quản lý thì cái người quản lý được ấy, muốn quản lý được ấ thì cần phải có quyền lực và xã hội cộng sản nguyên thủy cũng không nằm ngoài cái ngoại lệ đó. Xã hội thị tộc là một cộng đồng người gồm rất là nhiều người khác nhau. Vậy thì để quản lý được cái xã hội đó thì hội đồng thị tộc cũng cần phải có quyền lực. Và cái quyền lực trong xã hội cộng sản nguyên thủy người ta gọi đó là quyền lực xã hội. Và cái quyền lực này nó có ba cái đặc điểm cơ bản. Thứ nhất là nó do toàn xã hội tổ chức ra đúng không ạ? Do tất cả các thành viên trong xã hội tổ chức ra. Và thứ hai người ta thực hiện cái quyền lực đó để nhằm phục vụ cho lợi ích của tất cả các thành viên trong xã hội. Và thứ ba nữa là gì? Cái quyền lực đó nó được

4:36 thực hiện chủ yếu là dựa trên sự tự nguyện của mỗi một thành viên trong xã hội. Họ chấp nhận và họ tự nguyện thực hiện nó. Và đương nhiên là cũng có những cái biện pháp cưỡng chế. Nhưng những cái biện pháp cưỡng chế trong xã hội cộng sản nguyên thủy là gì? nó mang tính chất cộng đồng. Tuy nhiên thì cái quyền lực xã hội này nó chỉ áp dụng trong một cái xã hội mang tính chất thuần nhất. Tức là mọi người, tất cả mọi người đều bình đẳng với nhau, không có sự phân biệt về vị trí, vai trò trong xã hội, về địa vị. Nhưng khi mà nhà nước ra đời, trải qua các lần phân công lao động xã hội dẫn tới sự xuất hiện của nhà nước, của nhà nước. Và trong cái xã hội có nhà nước thì có giai cấp thống trị, giai cấp bị trị, có nhiều giai cấp tầng lớp khác nhau thì nhà nước không thể đơn thuần chỉ sử dụng cái quyền lực xã hội mà nhà nước cần phải có một thứ quyền lực khác

5:23 mạnh hơn, đủ để có thể duy trì được cái địa vị xã hội của mình cũng như để bảo vệ được cái lợi ích của mình và cho cái xã hội đó ổn định trong một cái trật tự mà nhà nước mong muốn. Và cái thứ quyền lực mà gia cấp thống trị sử dụng ở đây người ta gọi nó là quyền lực công cộng đặc biệt. Quyền lực công cộng đặc biệt tức là nó cũng là cái quyền lực mà nó áp dụng chung với cộng đồng thôi nhưng mà nó khác biệt nó đặc biệt ở cái chỗ nào? Thứ nhất ấy là cái quyền lực công cộng đặc biệt là một cái loại quyền lực mà nó có tác động phổ biến được áp đặt đối với tất cả các chủ thể trong xã hội. Bất kỳ một cá nhân tổ chức nào rơi vào cái điều kiện hoàn cảnh mà pháp luật của nhà nước ban ảnh ra dự liệu điều chỉnh thì họ dù muốn hay không muốn họ cũng đều phải điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp.

6:10 Cái thứ hai là cái quyền lực này nó không phải được áp đặt, nó không được thực hiện bởi tất cả các chủ thể trong xã hội mà nó tách rời ra khỏi xã hội. Nó được thực hiện bởi một cái bộ máy cưỡng chế chuyên nghiệp. Chỉ có nhà nước mới có quyền thành lập ra quân đội, cảnh sát, nhà tù, tòa án, trại giam vân vân. Và đây chính là những công cụ bạo lực vật chất mà nhà nước tổ chức ra để thực hiện cái hoạt động cưỡng chế chuyên nghiệp. Mạ một cái vấn đề thứ ba là cái quyền lực công cộng đặc biệt của nhà nước nó chính là độc quyền sử dụng sức mạnh bạo lực. Điều đó có nghĩa rằng là trong xã hội không phải chủ thể nào, người nào, tổ chức nào cũng có quyền sử dụng sức mạnh bạo lực mà chỉ có nhà nước mà thôi. Cái việc sử dụng bạo lực của

6:57 các tổ chức khác trong xã hội nếu như không được sự cho phép đấy chính là sự bất hợp pháp. Ví dụ cô có tiền cho người khác vay đến hạn con nợ không trả nợ thì trong trường hợp này con người sẽ có rất nhiều những cách lựa chọn khác nhau. Ví dụ có thể thuê người khác đến để siết đồ để lấy đồ của họ để trừ vào cái khoản tiền nợ đó được hay không. Vậy thì cái việc sử dụng bạo lực trong trường hợp này nó lại bị coi là bất hợp pháp. Nhưng trong trường hợp nếu như thay vì là đòi nợ một cách trực tiếp sử dụng bạo lực để buộc họ phải trả nợ cho mình thì có thể thông qua bằng con đường yêu cầu các cơ quan nhà nước có thầm quyền áp dụng pháp luật để đòi lại cái quyền lợi chính đáng cho mình hay không và để đảm bảo cái quyền lợi cho chủ thể à nếu cái quyền cái việc cho vay đó là hợp pháp

7:43 thì nhà nước có thể sử dụng rất nhiều những biện pháp khác nhau và trong trường hợp đặc biệt nhà nước có thể sử dụng cả các biện pháp cưỡng chế chế nhà nước ví dụ tiến hành kê biên bán đấu giá tài sản để lấy tiền trả cho trả cho chủ nợ như vậy có thể nói rằng là không phải người nào chủ thể nào tổ chức nào trong xã hội cũng có quyền sử dụng sức mạnh bạo lực ngoài nhà nước và một vấn đề tiếp theo nữa là cái việc sử dụng quyền lực của nhà nước ở đây nó mang tính giai cấp điều này nó thể hiện rất rõ là gì là bất kỳ một cái nhà nước nào khi ra đời và tồn tại nó cũng luôn luôn thuộc về một danh cấp và hoặc một liên minh giai cấp. Vậy thì cái nhà nước đó sử dụng quyền lực, vậy thì cái quyền lực đó nó trước hết nó phải phục vụ cho cái lợi

8:30 ích của cái giai cấp cầm quyền. Và thứ hai là gì? Nó định hướng, nó sử dụng bạo lực để định hướng cho các quan hệ xã hội nó phát triển theo cái mong muốn mà nhà nước gì đặt ra, nhà nước yêu cầu. Và một cái vấn đề tiếp theo nữa là trong xã hội thì chỉ có nhà nước là chủ thể giàu có nhất trong xã hội, có cái nguồn lực về kinh tế, về chính trị và về tư tưởng. Và vì vậy cái việc sử dụng sức mạnh của nhà nước trong xã hội nó sẽ mang lại hiệu quả lớn nhất. Thì đấy là một số những cái đặc điểm cơ bản quyền lực công cộng à đặc biệt của nhà nước. Ví dụ như trên màn hình các em có thể nhìn thấy để bảo vệ trật tự, để bảo ổn định xã hội trong cái cuộc biểu tình ở Ukraina, ở miền Đông Ukraina thì chính quyền QF đã sử

9:18 dụng bạo lực để đàn áp thẳng tay những cuộc biểu tình của những người dân. Và cái việc sử dụng bạo lực để đàn áp trong những trường hợp này là gì? Xã hội chấp nhận ở cái mức độ là gì? Nhà nước với tư cách là gì? Là chủ thể quản lý gì? quản lý xã hội hoặc là trong những trường hợp khác khi người dân không đồng ý với một chính sách, một cái yêu cầu nào đó của nhà nước thì họ có thể có rất nhiều những cách biểu hiện cái ý kiến của mình. Và một trong những cách đó là họ có thể là gì? Là biểu tình. Và nếu như cái sự biểu tình đó của người dân là không phù hợp, là không hợp pháp thì nhà nước sử dụng sức mạnh bạo lực của mình để dẹp, để có thể là giải tán cái cuộc biểu tình đó. đó và cái việc sử dụng bạo lực của nhà nước trong trường hợp này là gì? Là phù hợp. Vậy thì câu hỏi đặt ra là tại sao

10:05 trong xã hội có nhiều chủ thể như thế mà chỉ có nhà nước mới có quyền lực công cộng đặc biệt mà thôi? Điều này chúng ta có thể lý giải nó ở một số những cái nguyên nhân sau đây. Thứ nhất là nhà nước chính là cái chủ thể đại diện cho toàn xã hội. Chỉ có nhà nước là chủ thể đại diện chính thức cho xã hội. Không chỉ trong phạm vi lãnh thuộc quốc gia mà nhà nước còn đại diện chính thức trong mối quan hệ gì? Với các chủ thể quốc tế khác. Và thứ hai là nhà nước là chủ thể quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội. Mà các lĩnh vực của đời sống xã hội thì nó đòi hỏi không chỉ là sự tuyên truyền, không chỉ là sự giáo dục là phổ biến các quy định của pháp luật mà trong nhiều trường hợp thì nó đòi hỏi phải có cả sử việc sử dụng cái sức mạnh bạo lực

10:50 của nhà nước để buộc các chủ thể họ phải thực hiện. Ví dụ khi nhà nước xây dựng một công trình công cộng phục vụ cho quốc tế dân sinh và có rất nhiều người dân người ta không chấp nhận với cái việc giải tỏa đó họ chống đối thì trong trường hợp này để thực hiện được cái hoạt động quản lý xã hội của mình thì nhà nước có thể sử dụng các biện pháp cưỡng chế ví dụ buộc người dân phải di rời ra khỏi cái nơi cái khu vực mà nhà nước gì dự định xây dựng cái công trình đó để phục vụ cho lợi ích chung và thậm chí nhà nước có thể áp dụng cả những biện pháp cưỡng chế ngay cả trong trường hợp là không có vi phạm nhưng trong trường hợp này nó vì lợi ích của chính bản thân người dân đó hoặc là vì lợi ích chung của gì? của xã hội. Và một vấn đề thứ ba nữa là để có thể xây dựng một cái

11:36 bộ máy bạo lực vật chất đồ sộ như thế thì không phải là trong xã hội chủ thể nào cũng có khả năng mà chỉ có nhà nước với tư cách là chủ thể nắm giữ trong tay cái quyền lực về kinh tế, thực hiện cái sự thống trị về kinh tế thì nhà nước có đầy đủ cái điều kiện để có thể là gì? Xây dựng cho mình một cái bộ máy và nuôi dưỡng cái bộ máy đó một cách có hiệu quả nhất. đó thì đấy là những cái lý do cơ bản để chúng ta giải thích rằng là gì? Tại sao nhà nước lại có quyền lực công cộng đặc biệt? Và đây cũng chính là những lý do để chúng ta lý giải rằng tại sao quyền lực công cộng đặc biệt nó lại là một dấu hiệu đặc trưng của nhà nước. Một cái dấu hiệu thứ hai, một cái dấu hiệu thứ hai là nhà nước quản lý dân cư theo sự phân

12:21 chia lãnh thổ. Đầy đủ của cái dấu hiệu đặc trưng này là gì? là nhà nước phân chia lãnh thổ của mình thành các đơn vị hành chính lãnh thổ và quản lý dân cư theo sự phân chia lãnh thổ đó. Như vậy trong xã hội cộng sản nguyên thủy cái mô hình đầu tiên chính là thị tộc. Vậy thì để quản lý được thành viên của mình thì thị tộc đã dựa vào cái căn cứ nào? Dựa vào đâu để có thể là gì? Quản lý được các thành viên của mình trong thị tộc đó. À nào xin mời các em. Em nào em? À thưa cô theo em đó là thị tộc là dựa vào huyết thống để quản lý xã hội. Rồi cảm ơn em. Như vậy trong cái xã hội cộng sản nguyên thủy cái mô hình tổ chức đầu tiên phát triển nhất đấy chính là mô

13:07 hình thị tộc. Thị tộc là tổ chức của những người có cùng huyết thống, cùng sinh sống trên một địa bàn và họ đều bình đẳng với nhau. Như vậy cái căn cứ chủ yếu để quản lý được thành viên của thị tộc chính là dựa vào huyết thống. Nhưng khi nghiên cứu về sự xuất hiện của nhà nước thì có em có biết được rằng là gì? Là do sự phát triển của kinh tế xã hội mà dẫn tới sự thay đổi nghề nghiệp, sự di chuyển dân cư từ địa vực này sang địa vực khác, từ khu vực địa lý này sang khu vực địa lý khác. Và dẫn tới là gì? Ở cái khu vực địa lý mới đó, những người sống trong cùng một khu vực họ không phải là có mối quan hệ huyết thống với nhau. Ví dụ như các em ở đây khi chúng ta đến thành phố Hồ Chí Minh để học, chúng ta đến từ rất nhiều những vùng biển khác nhau và giữa các em chung sống ở một khu phố, ở một cái dãy nhà nhưng

13:53 không hẳn là chúng ta có cùng huyết thống với nhau. Vậy thì khi mà nhà nước ra đời thì nhà nước không thể lựa chọn cái cách là dựa vào huyết thống để mà quản lý dân cư mà nhà nước cần phải lựa chọn một cái cách thức quản lý xã hội nào đó một cách hiệu quả hơn và một cách phổ biến là hầu hết các nhà nước trên thế giới họ đều lựa chọn một cái cách thức quản lý dân cư là chia lãnh thổ của mình thành các đơn vị hành chính lãnh thổ và thực hiện quản lý dân cư theo sự phân chia lãnh thổ đó và trong xã hội thì cũng chỉ có nhà nước mới có cái thẩm quyền này mà thôi. À thẩm quyền này thôi, chỉ có nhà nước mới có quyển chia lãnh thổ của mình thành các đơn vị hành chính lãnh thổ và thực hiện cái hoạt động quản lý. Ví dụ như ở Việt Nam tính đến thời điểm ngày 11 tháng 0 năm 2015,

14:40 ở Việt Nam chúng ta có 63 tỉnh thành, 713 huyện và 10.732 xã. Như vậy ở Việt Nam chúng ta chia thành ba cấp chính quyền địa phương là cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Và ở mỗi một đơn vị hành chính, nhà nước lại thiết lập nên một hệ thống các cơ quan quản lý tương ứng. Và các cơ quan quản lý này họ thực hiện chức năng, nhiệm vụ nhà nước giao cho mà không phụ thuộc vào những yếu tố như các tổ chức khác. Ví dụ họ không phụ thuộc vào giới tính nào, độ tuổi nào, huyết thống nào, nghề nghiệp nào. Trong khi những tổ chức khác trong xã hội, ví dụ như Đoàn Thanh niên, hội liên hiệp phụ nữ, hội cựu chiến binh, họ có thể dựa vào những tiêu chí về độ tuổi, về giới tính, về nghề nghiệp để quản lý thành viên của mình. Nhưng nhà nước thì không căn cứ vào những yếu tố đó mà nhà nước

15:28 phân chia lãnh thổ của mình thành các đơn vị hành chính lãnh thổ và thực hiện chức năng quản lý theo cái từng đơn vị cấp độ lãnh thổ đó mà thôi. Vậy thì câu hỏi đặt ra là tại sao nhà nước lại phải quản lý dân cư theo lãnh thổ? Tại sao nhà nước không lựa chọn cái cách thức quản lý này quản lý kia mà nhà nước lại lựa chọn là gì? Chia lãnh thổ của mình thành các đơn vị hành chính lãnh thổ. Điều này chúng ta có thể lý giải ở một vài cái lý do. Cái thứ nhất là điều này nó xuất phát từ cái nhu cầu quản lý xã hội do sự di chuyển dân cư từ địa vực này sang địa vực khác do sự thay đổi về nghề nghiệp à của các cư dân của cộng đồng. Và vì thế dẫn tới là ở một khu vực địa lý nhất định thì có những con người khác nhau, độ tuổi khác nhau, giới tính khác nhau, nghề nghiệp khác nhau. Và vì vậy để quản lý được thì nhà nước phải

16:15 phân chia lãnh thổ của mình thành cấp độ hành chính khác nhau. Và cái sự phân chia này nó dựa trên cái đặc điểm về không gian, về địa lý, về đối tượng, quản lý cũng như là về văn hóa. Cái dấu hiệu thứ hai nó có những đặc điểm nào? Thứ nhất ấ là nhà nước chia thành các đơn vị hành trình lãnh thổ và thứ hai nhà nước thiết lập một hệ thống các cơ quan quản lý tương tương ứng từ trung ương xuống địa phương. Ví dụ như ở Việt Nam hiện nay theo quy định tại điều 110 hiến pháp năm 2013 thì ở nước ta chia thành các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương. Rồi các tỉnh thì chúng ta chia thành huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Thành phố trực thuộc trung ương thì chia thành các quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương. Rồi ở các đơn vị cấp huyện thì chia thành

17:00 xã, thị trấn, thị xã và thành phố thuộc tỉnh thì chia thành phường và xã quận thì chia thành gì? Các phường. Như vậy chúng ta có những cấp độ khác nhau cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã, chính quyền địa phương và ở mỗi một cái đơn vị hành chính này chúng ta lại có một hệ thống cơ quan quản lý tương ứng. Ví dụ cấp tỉnh chúng ta có hai cái cơ quan chính quyền địa phương cơ bản đấy chính là Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Và tương ứng dưới cấp huyện chúng ta cũng có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Và ngoài ra chúng ta còn có các cơ quan khác ví dụ như ở cấp tỉnh chúng ta có các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân à thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Ví dụ như thế vậy và theo quy định của Hiến pháp năm 2003 13 thì ngoài cái đơn vị hành chính là cấp tỉnh, cấp huyện, cấp

17:47 xã thì chúng ta còn có một cái đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt. Và cái đơn vị hành chính kịch tế đặc biệt này thì do Quốc hội thành lập mà theo quy định của gì? Luật tổ chức chính quyền địa phương. À và sau này chúng ta có thể có cái luật về đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt. Đó đấy là cái dấu hiệu đặc trưng thứ hai của nhà nước. Một cái dấu hiệu đặc trưng thứ ba đó là nhà nước có chủ quyền quốc gia. Vậy thì chủ quyền quốc gia là gì? Chủ quyền quốc gia được hiểu một cách chung nhất ấy, đó chính là khả năng và mức độ tác động của quyền lực nhà nước tới cư dân và lãnh thổ. Nhà nước đó có khả năng tác động tới cư dân của mình như thế nào, tác động tới lãnh thổ của mình ra sao. Và trong một nhà nước thì cái khái niệm chủ quyền quốc gia nó chỉ thuộc về cái nhà nước đó mà

18:33 thôi, chỉ thuộc về một chủ thể duy nhất đó là nhà nước. Đương nhiên là tùy thuộc vào từng cái hình thức cấu trúc nhà nước mà cái vấn đề chủ quyền quốc gia nó cũng sẽ có vài cái sự khác biệt. Ví dụ trong cái mô hình chính thể cấu trúc nhà nước đơn nhất ấy thì chúng ta có cái quyền lợi cái gọi là chủ quyền quốc gia nó chỉ thuộc về nhà nước. Nhưng trong cái hình thức cấu trúc nhà nước liên bang thì cái vấn đề về chủ quyền quốc gia nó sẽ có cái sự phân biệt giữa chủ quyền quốc gia của chính quyền liên bang và đối với từng tiểu bang tức là cái thành phần tạo thành cái chính quyền liên bang đó nó sẽ có một số những cái thẩm quyền nhất định. Một vấn đề đặt ra là tại sao nhà nước lại có chủ quyền quốc gia, tại sao trong xã hội có nhà nước thì chỉ có nhà

19:19 nước mới có chủc quyền quốc gia mà thôi. Và điều này chúng ta cũng lý giải ở góc độ là gì? Nhà nước là cái chủ thể đại diện cho cư dân, cho quốc gia. Chủ quyền quốc gia là một cái khái niệm chính trị pháp lý và nó chỉ thuộc về cái chủ thể mà đại diện cho dân tộc đó, cho cư dân đó, cho nhà nước đó mà thôi. Và hơn nữa, để thực hiện cái quyền lực của mình, quyền lực nhà nước về chủ quyền quốc gia thì nhà nước có một cái bộ máy quản lý xã hội. Và trong mối quan hệ giữa nhà nước với các chủ thể quốc tế khác, các nhà nước, các dân tộc, các tổ chức quốc tế thì nhà nước được coi là một chủ thể độc lập, có chủ quyền và trong mối quan hệ đó thì họ đã độc lập với nhau, với nhau, bình đẳng với nhau à không bên nào có quyền can thiệp vào công việc nội bộ

20:04 của bên nào trên nguyên tắc là tôn trọng, động lập chủ quyền và toàn vẹ lãnh thổ của nhau. Vậy thì khi mà nói tới chủ quyền quốc gia thì người ta thường đề cập tới cái vấn đề về lãnh thổ quốc gia. Vậy thì lãnh thổ quốc gia là gì? Nó chính là cái khoảng không gian tự quyết của nhân dân và trong phạm vi đó thì nhà nước thực hiện cái chủ quyền và cái quyền tài phán của mình. À như vậy nói tới lãnh thổ quốc gia thì người ta nói cái vùng lãnh thổ trong nội địa tức là đất liền. Rồi chúng ta có lãnh thổ quốc gia là gì? là không phận, là bầu trời đúng không ạ? Rồi chúng ta có gì? Vùng lãnh thổ gì về biển đấy. Àạ như vậy chúng ta có cấu thành lãnh thổ quốc gia thì nó có rất gì? Rất là nhiều những cái gì? Những cái bộ phận khác nhau để hợp

20:51 thành. Và trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó thì người dân người dân có quyền thành lập ra cái cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, có quyền thành lập ra cái cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của mình. Và trong cái phạm vi lãnh thổ quốc gia đó, nhà nước có quyền là thiết lập các quan hệ đối ngoại với các chủ thể quốc tế khác. À đồng thời người dân cũng có quyền là gì? Thực hiện những cái hoạt động để bảo vệ, giữ gìn cái gì? Sự an toàn, cái gì? Toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc để nhằm chống lại mọi sự xâm chiếm, mọi sự tác động từ bên ngoài và gì? Lãnh thổ quốc gia. Vậy thì xét về mặt phạm vi, chủ quyền quốc gia người ta thường xem xét chúng ở trên hai góc độ. Đó là chủ quyền về mặt đối nội và thứ

21:36 hai là chủ quyền về mặt đối ngoại. Vậy thì chủ quyền về mặt đối nội là gì? Là chính là cái thẩm quyền, là cái quyền lực của nhà nước trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Chỉ có nhà nước mới có quyền đề ra về chính sách, kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng mà không có một cái chủ thể quốc tế nào có quyền gì can thiệp vào. Và cái đối tượng chịu sự tác động của cái chủ quyền đối nội đó nó chính là các công dân và các tổ chức sinh sống trong trong lãnh thổ đó. Tuy nhiên thì các bạn sẽ thấy rằng là trong một cái nhà nước cũng nó giống như con người thôi. Nó tồn tại không thể tồn tại một cách biệt lập mà nó luôn luôn có cái mối quan hệ tác động qua lại đối với các chủ thể khác. Nhà nước cũng thế, luôn luôn

22:23 có cái mối quan hệ với các nhà nước khác, các dân tộc khác và các tổ chức quốc tế. Vậy thì cái mối quan hệ giữa nhà nước với các nhà nước khác, các dân tộc khác, các tổ chức quốc tế khác, người ta xếp nó vào cái người ta gọi là chủ quyền đối ngoại trong việc gì? Thiết lập các quan hệ quốc tế vân vân. Một cái đặc điểm thứ tư của nhà nước đó là nhà nước ban hành pháp luật và xác lập trật tự xã hội. Một cái nguyên lý chung là ở đâu có đối tượng quản lý thì ở đó cần phải thiết lập đến những cái quy tắc quy tắc và một trong những cái quy tắc, một trong những cách thức mà nhà nước lựa chọn để mà quản lý xã hội đấy chính là nhà nước thiết lập ra một hệ thống pháp luật. Vậy thì pháp luật là gì? Pháp luật là một hệ thống các quy tắc xử sự mang

23:10 tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành được áp dụng đối với các cá nhân, tổ chức trong xã hội và bất kỳ một nhà nước nào thì cũng có một hệ thống pháp luật. À trong cái hệ thống đó thì Hiến pháp được coi là văn bản có giá trị hiệu lực pháp lý cao nhất và dưới đó thì còn có rất nhiều những cái văn bản các bộ luật, các đạo luật và các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật khác. Vậy thì đối với cái dấu hiệu thứ tư này nó có những cái đặc điểm nào? Cái thứ nhất ấy, Pháp được đánh giá là cái công cụ, là cái phương tiện quan trọng nhất để quản lý xã hội. Đương nhiên là trong xã hội thì pháp luật nó không phải là cái công cụ duy nhất. Bởi vì ngay trong xã hội cộng sản nguyên thủy, cái xã hội thị tộc ấy chưa có, nhà nước thì đương nhiên chưa có pháp luật. Nhưng để quản lý được xã hội thì người ta đã sử dụng những cái quy phạm xã hội như đạo đức, tập quán để

23:57 mà điều chỉnh hành vi của con người. Vậy thì khi mà nhà nước ra đời thì đương nhiên là những cái quy tắc xử sự này nó vẫn tồn tại và nhà nước lựa chọn một cái cách thức xử sự mới, một cái công thức để mà quản lý xã hội mới hơn đấy chính là đặt ra pháp luật. Và trong số những cái công cụ phương tiện tác động vào hành vi của con người và các quan hệ xã hội thì pháp luật được coi là cái công cụ phương tiện để mà quản lý xã hội quan trọng nhất. đặt ra pháp luật, nhà nước ban hành gia pháp luật chính là nhà nước đặt ra các quy tắc xử sự chung và các quy tắc xử sự này nó được áp dụng đối với tất cả các chủ thể trong những điều kiện hoàn cảnh mà pháp luật hay là nhà nước đã dự liệu trước. Và khi tham gia vào cái quan hệ đó, dù muốn hay không muốn anh cũng phải điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp. Và vì nó là quy tắc được áp dụng đối với

24:43 phổ biến các chủ thể trong xã hội. Do đó trong nhà nước, trong xã hội có nhà nước cũng chỉ có nhà nước mới có quyền đặt ra pháp luật mà thôi. Vậy thì câu hỏi đặt ra nếu như nhà nước đặt ra pháp luật, nhà nước đặt ra các quy tắc xử sự chung như vậy thì nhà nước có phải hoạt động trong cái giới hạn mà mình đặt ra hay không? Thì câu trả lời rằng là gì? Nhà nước đặt ra pháp luật nhưng nhà nước cũng phải hoạt động trong chính cái khuân khổ mà nhà nước gì? đã vạch ra và bên cạnh đó nhà nước cái việc mà nhà nước đặt ra pháp luật thì nó sẽ không thể đi vào đời sống được nếu như nhà nước không có cái cơ chế, không có những biện pháp để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện. Và về mặt thực tế thì nhà nước có thể đảm bảo cho pháp luật được thực hiện bởi rất nhiều những cách thức khác nhau từ sự phù hợp về mặt nội dung

25:31 của pháp luật đến áp dụng các biện pháp tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật. Và trong những trường hợp đặc biệt, nhà nước có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước. Một vấn đề nữa là tại sao nhà nước lại có quyền đặt ra pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật. Đó, điều này nó cũng xuất phát từ cái nhu cầu khách quan của quản lý xã hội. À muốn quản lý được xã hội thì cần phải có những quy tắc thực sự để đảm bảo rằng tất cả các chủ thể khi họ tham gia vào một quan hệ xã hội nhất định thì họ đều phải có cái cách hành xử như nhau, cách ứng xử như nhau. Pháp luật là một đại lượng mà đại lượng đó được áp dụng cho những chủ thể khác nhau trong những điều kiện hoàn cảnh gì? giống nhau. Và một vấn đề nữa đó là nhà nước ban hành

26:16 ra pháp luật à và pháp luật cần phải được đảm bảo thực hiện cũng như là gì? Bảo vệ nó. Và hơn nữa là người ta đánh giá rằng là trong một nhà nước mà quản lý xã hội bằng pháp luật thì được coi là một cách quản lý xã hội một cách văn minh nhất. Vì thế bất kỳ một nhà nước nào cũng đều lựa chọn pháp luật là một cái công cụ quản lý xã hội. Quan trọng nhất mua kế dấu hiệu đặc trưng thứ năm của nhà nước đó là nhà nước quy định các loại thuế và thực hiện việc thuế dưới hình thức bắt buộc. Trong đời sống xã hội thì bất kỳ một cái tổ chức cá nhân nào hoạt động vì mục đích chung và muốn tồn tại được ấy thì họ đều cần phải có kinh phí hay nói cách khác là họ đều cần phải có tiền. Vậy thì nhà nước cũng thế, nhà nước cũng không phải là một ngoại lệ. Nhà nước muốn tồn tại và hoạt động,

27:04 duy trì được bộ máy của mình thì nhà nước cũng cần phải có một cái nguồn kinh phí nào đó. Và hầu hết các nhà nước trên thế giới thì người ta đều lựa chọn cái cách tạo ra cái nguồn ngân sách, cái nguồn kinh phí cho hoạt động của mình. Đấy chính là thuế. Vậy thì thuế là gì? Nó thuế chính là một cái khoản tài chính mà các cá nhân, tổ chức phải đóng góp cho nhà nước theo quy định của pháp luật. Điều đó có nghĩa rằng là không phải cá nhân, tổ chức nào cũng phải đóng thuế cho nhà nước giống như nhau mà tùy thuộc vào từng quy định của từng sắc thuế mà các cá nhân, tổ chức sẽ đóng thuế cho nhà nước à khác nhau. À nhiều hay ít là khác nhau. Và có thể nói rằng thuế chính là một cái nguồn thu chính của ngân sách nhà nước. Vậy thì bản chất của thuế là gì? Bản chất của thuế đây là

27:50 một cái hoạt động là mang tính chất quyền lực nhà nước. Nhà nước quy định ra các loại thuế và buộc các chủ thể khi họ thỏa mãn cái sắc thuế đó phải đóng thuế cho nhà nước. Còn đương nhiên chúng ta các bạn sẽ thấy rằng là không tự nhiên mà chúng ta lại bỏ tiền ra mà đóng cho nhà nước. Mà trong trường hợp này là gì? Vì chúng ta thỏa mãn, chúng ta thuộc cái phạm vi quy định của pháp luật mà chúng ta phải đóng thuế cho nhà nước mà thôi. Và vì vậy sử dụng quyền lực nhà nước để buộc các chủ thể trong xã hội phải thực hiện nghĩa vụ của mình. Và thứ hai nữa là gì? Thuế là một cái nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước và cái thuế của nhà nước nó không phan tính đối giá và hoàn trả một cách trực tiếp. Hay nói cách khác là gì? Nó cũng là một cái khoản thu mà không có đối khoản trực tiếp. Có nghĩa rằng là gì? Khi mà nhà nước thu tiền thuế để tạo ra ngân sách

28:36 thì nhà nước có thể chi dùng tiền thuế cho rất nhiều những cái mục tiêu khác nhau. Nhà nước thu và tạo thành ngân sách. Nhà nước sẽ ấn định rằng là à cái khoản tiền đó nó sẽ được chi cho rất là nhiều những cái hoạt động. nào là giáo dục, y tế, giao thông và nó sẽ không có một cái quy định cụ thể rằng là à cái khoản thuế này thì được chia cho cho mục đích nào à m tức là cho một khoản thu nào cụ thể mà nhà nước chỉ thu chung vào sau đó hàng năm thì cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất sẽ tiến hành phân bổ ngân sách trong cái từng lĩnh vực khác nhau và giữa trung ương với địa phương phải có sự phân định rất rõ về vấn đề thu và chi ngân sách nhà nước như thế nào. Vậy thì một câu hỏi đặt ra là tại sao nhà nước lại phải thu thuế? Và trong xã hội thì các anh chị có biết rằng là

29:22 các bạn cũng biết được rằng là nhà nước chính là cái chủ thể có quyền in ra tiền. Vậy thì tại sao mà nhà nước lại không in ra tiền để tạo ra cái gọi là cái gì? Cái nguồn tài chính cho mình. À nhưng trong một nhà nước nếu như in quá nhiều tiền nhiều tiền thì nó dẫn đến rất nhiều những hệ quả khác nhau. Và cái mà chúng ta nhìn thấy đấy chính là tình trạng gì? Lạm phát. Vậy thì khi mà nhà nước thuế, nhà nước sẽ chi cho những mục đích gì và tại sao mà nhà nước lại cần phải thu thuế? Thì điều này chúng ta có thể lý giải ở góc độ là gì? Những người làm việc trong bộ máy nhà nước, họ là công chức, là viên chức trong bộ máy nhà nước. Họ đã tách ra khỏi cái quá trình sản xuất vật chất trực tiếp của xã hội và họ chuyên làm cái công việc quản lý. Tức là họ cung cấp những dịch vụ, những hàng hóa công cộng đặc biệt cho xã hội

30:08 mà họ không trực tiếp tham gia vào việc sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội. Vậy thì để có họ có thể duy trì để cho bộ máy đó có hoạt động một cách hiệu quả thì nhà nước cần phải có một nguồn thu. Cái thứ hai là có rất nhiều những lĩnh vực của nhà nước mà cần phải có sự đầu tư từ y tế, giáo dục, giao thông à và thậm chí là xây dựng những cái công trình văn hóa mang tính chất tâm linh, tinh thần thì cũng phần vẫn phải có gì? Phải có tiền. Và thứ ba nữa là nhà nước phải thực hiện các chính sách xã hội à hỗ trợ cho trẻ mồ côi, người già neo đơn, hỗ trợ cho những vùng bị thiên tai, địch họa vân vân. Và tất cả những hoạt động này đều cần phải có tiền. Và vì thế nhà nước cần phải có một nguồn thu nào đó để tạo ra cái ngân sách cho mình. À

30:54 vậy thì nhà nước sử dụng thuế và những mục đích nào là chủ yếu à ở đây thứ nhất là để duy trì bộ máy của mình để mà quản lý xã hội thì nhà nước phải trả lương trả thường cho những người làm việc trong bộ máy nhà nước. Hay nói cách khác là ngân sách nhà nước được sử dụng để nuôi dưỡng bộ máy nhà nước. Vậy thì bên cạnh cái việc là một cái khoản tiền để nuôi dưỡng bộ máy nhà nước thì nhà nước còn đầu tư để xây dựng cơ sở vật chất cho nhà nước. Ví dụ xây dựng trụ sở cho các cơ quan nhà nước mua sắm tài sản công. Nó đều từ gì? Từ ngân sách nhà nước. Àạ. Và một vấn đề thứ ba nữa là nhà nước sử dụng để đảm bảo việc thực hiện các hoạt động xã hội của nhà nước, cứu trợ cho những vùng bị thiên tai, địch họa, hỗ trợ cho những người thuộc gia đình, chính sách, người có công với

31:39 cách mạng trẻ mồ côi, người già neo đơn. vân vân. Và cái hoạt động này á nó thể hiện được cái bản chất tốt đẹp gì của nhà nước nếu như mà nhà nước thực hiện một cách có hiệu quả. Vậy thì một câu hỏi đặt ra khi tiền thuế không đủ chi cho hoạt động của mình thì nhà nước sẽ phải làm gì để bù vào cái khoản bị thiếu đó? Xin mời em. Thưa cô, khi tiền thu thuế không đủ chi cho sinh hoạt hoạt động của mình thì nhà nước sẽ vay tiền của người dân, vay của nước ngoài và phát hành chai phiếu ạ. Rồi cảm ơn em. Như vậy về mặt thực tế khi chúng ta trong cuộc sống mà chúng ta thiếu tiền thì việc đầu tiên chúng ta nghĩ tới là sẽ đi vay tiền của người khác. Vậy thì nhà nước cũng thế thôi ha. Khi nhà nước cái nguồn thu của nhà nước nó không đủ

32:25 để mà chi cho những cái khoản chi của nhà nước thì nhà nước có thể huy động có được cái tiền bằng việc là gì? Nhà nước phát hành ra trái phiếu à để mà gì? Vay nợ của người dân để phục vụ cho những công trình gì? Quốc tế dân sinh. Ví dụ hệ thống giao thông à cầu vân vân. Như vậy đến đây cô đã giới thiệu với các em năm cái dấu hiệu đặc trưng của nhà nước. Và năm cái dấu hiệu đặc trưng này được coi là những dấu hiệu mà để chúng ta có thể phân biệt, để chúng ta có thể nhận diện được nhà nước trên thực tế, để phân biệt giữa nhà nước với xã hội cộng sản nguyên thủy trước kia cũng như để phân biệt giữa nhà nước với các tổ chức khác trong xã hội có giai cấp, có nhà nước và cũng chỉ có nhà nước mới có những cái dấu hiệu đặc trưng này mà thôi. Và chính

33:10 những dấu hiệu đặc trưng này nó tạo thành cái ưu thế của nhà nước so với những tổ chức khác trong xã hội. À tiết học của chúng ta đến đây tạm dừng. Cảm ơn các em.

Share

YouTube Video Summaries