Bài những vấn đề lý luận về pháp luật _ TIẾT 1/5 _ HCMULAW

Tóm tắt ngắn gọn

Video giới thiệu về những vấn đề lý luận chung về pháp luật, bao gồm nguồn gốc, bản chất, chức năng, thuộc tính và hình thức của pháp luật. Bài học giúp người học hiểu rõ mối liên hệ giữa pháp luật với các hiện tượng xã hội khác, nhận diện và so sánh các hình thức pháp luật, và phân biệt pháp luật với tôn giáo, tập quán và đạo đức. Nội dung bài học gồm năm phần: nguồn gốc của pháp luật, bản chất và các mối liên hệ của pháp luật, thuộc tính của pháp luật, chức năng của pháp luật và hình thức pháp luật.

  • Nguồn gốc của pháp luật liên quan đến các quan điểm về nguồn gốc nhà nước.
  • Bản chất của pháp luật thể hiện qua tính giai cấp và tính xã hội.
  • Pháp luật có mối liên hệ mật thiết với kinh tế, chính trị, nhà nước và các quy phạm xã hội khác.

Giới thiệu

Bài học này sẽ trình bày về những vấn đề lý luận chung về pháp luật, bao gồm nguồn gốc, bản chất, chức năng, thuộc tính và hình thức của pháp luật. Mục tiêu của bài học là giúp người học hiểu rõ nguồn gốc, bản chất, chức năng, thuộc tính và hình thức của pháp luật, cũng như mối liên hệ giữa pháp luật với các hiện tượng xã hội khác như kinh tế, nhà nước, chính trị và các vi phạm xã hội. Người học cũng sẽ nhận diện và so sánh được các hình thức pháp luật như tập quán pháp, tiền lệ pháp và văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời phân biệt pháp luật với tôn giáo, tín điều tôn giáo, tập quán, vi phạm tôn giáo và đạo đức xã hội.

Khái niệm pháp luật

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện. Nó thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội và điều chỉnh các quan hệ xã hội. Khái niệm này bao gồm tất cả các yếu tố cơ bản nhất của pháp luật, và sẽ được làm rõ hơn qua các nội dung cụ thể tiếp theo.

Nguồn gốc của pháp luật

Có nhiều quan điểm tiếp cận về nguồn gốc của pháp luật, tương ứng với các quan điểm về nguồn gốc của nhà nước như học thuyết thần quyền, quyền gia trưởng, khế ước xã hội, bạo lực và tâm lý. Theo quan điểm của chủ nghĩa Marx-Lenin, pháp luật được xem là một hiện tượng của kiến trúc thượng tầng, bị quy định bởi cơ sở hạ tầng là kinh tế. Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, khi chưa có nhà nước, các quy tắc ứng xử được điều chỉnh bởi tập quán, tín điều tôn giáo và đạo đức. Sự phát triển của quan hệ kinh tế dẫn đến tư hữu ra đời, phân hóa xã hội, hình thành giai cấp và mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa, từ đó nhà nước ra đời và sử dụng pháp luật để quản lý xã hội và bảo vệ sự thống trị giai cấp.

Phương thức ra đời của pháp luật

Phương thức ra đời của pháp luật được tiếp cận ở hai góc độ khách quan và chủ quan. Về khách quan, nguồn gốc ra đời của nhà nước cũng chính là nguồn gốc ra đời của pháp luật. Về chủ quan, pháp luật được hình thành bằng con đường nhà nước, thông qua hai cách: ban hành và thừa nhận. Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng quy tắc ứng xử mang tính bắt buộc chung. Nhà nước cũng thừa nhận các quy phạm xã hội từ tín điều tôn giáo, tập quán, vi phạm đạo đức nếu chúng có lợi cho giai cấp thống trị và phù hợp với sự phát triển của xã hội. Sự thừa nhận này có thể thể chế hóa vào văn bản quy phạm pháp luật hoặc cho phép tồn tại song song với hệ thống pháp luật, nhưng không được trái với hiến pháp.

Bản chất và các mối liên hệ của pháp luật

Bản chất của pháp luật là những quy luật bên trong quyết định những đặc điểm và khuynh hướng phát triển cơ bản của pháp luật. Nghiên cứu bản chất pháp luật bao gồm tính giai cấp và tính xã hội. Tính giai cấp thể hiện ở việc pháp luật phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị và bảo vệ trật tự có lợi cho giai cấp này. Tính xã hội thể hiện ở việc pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội, gắn với nhu cầu quản lý và giữ trật tự chung của xã hội, đưa ra quy tắc ứng xử chung cho toàn bộ xã hội. Pháp luật còn góp phần loại bỏ những quan hệ xã hội tiêu cực và thúc đẩy những quan hệ xã hội tích cực. Mối liên hệ giữa tính giai cấp và tính xã hội là tỷ lệ nghịch: tính giai cấp càng lớn thì tính xã hội càng giảm.

Mối liên hệ giữa pháp luật với các hiện tượng xã hội khác

Các mối liên hệ giữa pháp luật với kinh tế, chính trị, nhà nước và các hiện tượng xã hội khác giúp làm rõ thêm bản chất của pháp luật.

  • Pháp luật với kinh tế: Kinh tế đóng vai trò quyết định, là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của pháp luật và quyết định nội dung, hình thức, cơ cấu và sự phát triển của pháp luật. Pháp luật tác động trở lại đối với kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển nếu phù hợp và kìm hãm nếu không phù hợp.
  • Pháp luật với chính trị: Chính trị đóng vai trò nội dung, pháp luật đóng vai trò hình thức. Đường lối, chính sách của đảng cầm quyền thể hiện trong pháp luật. Pháp luật là công cụ để chuyển hóa ý chí của giai cấp thống trị thành quy tắc ứng xử chung.
  • Pháp luật với nhà nước: Nhà nước là tổ chức quản lý, pháp luật là công cụ quản lý. Nhà nước ban hành và đảm bảo pháp luật được thực hiện, đồng thời tổ chức hoạt động của nhà nước phải dựa trên khuôn khổ pháp luật.
  • Pháp luật với các quy phạm xã hội: Pháp luật, đạo đức, tôn giáo và tập quán đều là quy tắc ứng xử, cùng kiến tạo trật tự chung của xã hội. Pháp luật thể chế hóa nhiều quy phạm đạo đức, tập quán để trở thành quy phạm pháp luật.

Tổng kết

Khi nghiên cứu về nguồn gốc ra đời của pháp luật, cần tiếp cận ở cả mặt khách quan (nguyên nhân làm ra đời nhà nước cũng là nguyên nhân làm ra đời pháp luật) và chủ quan (pháp luật ra đời bằng con đường nhà nước, thông qua ban hành hoặc thừa nhận). Về bản chất, cần tiếp cận tính giai cấp (pháp luật phục vụ lợi ích giai cấp nào) và tính xã hội (pháp luật có chia sẻ quyền lực và giải quyết các vấn đề xã hội không), đồng thời xác định mối liên hệ giữa tính giai cấp và tính xã hội.

Summarize any YouTube video in seconds

Get summaries like this one for any video, in your language, with the free Summ app.

Download on the Apple Store
Get it on Google Play

Transcript

YouTube Transcript Generator

0:00 [âm nhạc] Chào các em. Hôm nay chúng ta sẽ bắt đầu một bài học mới và chúng ta bắt đầu bước qua cái phần pháp luật khi các em vừa kết thúc nhà nước. Và bài đầu tiên của phần pháp luật đó là những vấn đề lý luận chung về pháp luật. Như vậy trong cái phần này các em sẽ học và chúng ta cái mục tiêu của bài học để lấy làm gì?

0:45 Tức là các em phải tiếp cận cái bài học để các em hiểu được nguồn gốc, bản chất, chức năng, thuộc tính và hình thức của pháp luật nó như thế nào đúng không ạ? Và nó khác biệt một chỗ như thế này các em. Nếu như đối với phần nhà nước các em học em thấy là nguồn gốc là một bài riêng, bản chất là một bài riêng, chức năng là một bài riêng, hình thức là một bài riêng. Thì đối với cái phần pháp luật thì tất cả những vấn đề này được đưa vào bài đầu tiên đó là bài những vấn đề lý luận chung về pháp luật. À như vậy các em sẽ học cái bài này rất là nhiều thông tin và các em cần phải nắm được là mối liên hệ giữa pháp luật với các hiện tượng xã hội khác. Thầy lấy ví dụ các em cần phải nắm được mối liên hệ giữa pháp luật với kinh tế, giữa pháp luật với nhà nước, giữa pháp luật với chính trị và giữa pháp luật với các vi phạm xã hội khác như thế nào. Chúng ta cũng nhận

1:31 diện và so sánh được các hình thức pháp luật tập quán pháp là gì, tiền lệ pháp là gì và văn bản quy phạm pháp luật là gì ha. Và các em cũng phải phân biệt được cái mà chúng ta gọi là pháp luật, cái mà chúng ta gọi là quy phạm pháp luật đó nó có gì khác biệt với tôn giáo không? Những cái tín điều tôn giáo không? nó có gì khác biệt với tập quán không? Những cái vi phạm tôn giáo nó có gì khác biệt so với cái đạo đức của xã hội đúng không ạ? Thì đối với bài học này nó sẽ giải quyết một số vấn đề cơ bản như vậy. Thì như vậy nội dung bài học sẽ gồm có năm phần. Đầu tiên chúng ta sẽ tiếp cận về nguồn gốc của pháp luật. Thứ hai là chúng ta tiếp cận về bản chất và các mối liên hệ của pháp luật. Phần thứ ba chúng ta sẽ đi vào thuộc tính của pháp luật. Phần thứ tư chúng ta đi vào chức năng. Và phần cuối cùng chúng ta đi vào hình thức pháp

2:16 luật. Đầu tiên thầy muốn giới thiệu các em về nguồn gốc pháp luật. Nhưng mà để giới thiệu về nguồn gốc pháp luật á thì thật ra sau khi nghiên cứu xong rồi các em mới tiếp cận khái niệm pháp luật là gì? Nhưng lại thầy lại muốn làm ngược một tí tức là thầy sẽ giới thiệu cho các em về khái niệm về pháp luật trước. Và các em hãy tiếp nhận cái khái niệm này một cách tự nhiên và sau đó khi những cái nội dung tiếp theo các em sẽ đối chiếu lại cái khái niệm này. Chứ thật ra khi các em học xong những cái phần chung thì các em mới tiếp cận về khái niệm. Nhưng mà thầy muốn cho các em thấy một khái niệm trước để chúng ta có một cái nhận thức, một cái định hình đầu tiên về pháp luật là gì? Khi chúng ta đi vào chi tiết thì pháp luật là gì? Thì pháp luật đó là hệ thống các quy tắc xử sự mà nó phải mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận. Và nhà nước cũng đảm bảo thực hiện những quy tắc hành sự đó. Nhà nước phải đảm bảo thực hiện thể hiện ý chí của giai cấp

3:02 thống trị trong xã hội và lại yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội. Đó là một cái nhìn nhận rất là khái nét về pháp luật. Và đây là khái niệm khi mà nói về khái niệm đó là tập hợp tất cả những cái yếu tố cơ bản nhất của một vấn đề. Do đó là các em hãy tiếp cận khái niệm này, nhìn nhận nó và sau đó chúng ta xử lý nó bằng từng nội dung cụ thể của pháp luật. Đầu tiên là chúng ta đi vào nguồn gốc. Thì ở đây có nhiều cái quan điểm tiếp cận về nguồn gốc. Vì cái quan điểm nguồn gốc của pháp luật đó nó sẽ theo cái quan điểm của nguồn gốc về nhà nước. Như các em nhớ lại khi chúng ta tiếp cận về nguồn gốc nhà nước, các em sẽ tiếp cận về quan điểm học thuyết thần quyền về nguồn gốc nhà nước. học thuyết về quyền gia trưởng, học thuyết khế ước xã hội hoặc thuyết bạo lực, thuyết tâm lý thì cái từng theo học thuyết đó thì pháp luật nó cũng có những học thuyết tương

3:48 ứng như vậy. Và đặc biệt là người ta sẽ nhìn nhận vấn đề chúng ta ở đây các em, các em phải lưu ý là để trả lời cho câu hỏi pháp luật là gì? là tùy theo góc đứng cách nhìn của mỗi người. Ví dụ theo quan điểm của chủ nghĩa Mar Linin, chúng ta có thể xem pháp luật là như thế này. Nhưng theo quan điểm của những cái cộng đồng dân tộc thiểu số chẳng hạn, họ sẽ có đưa ra một vấn đề khác, một cái khái niệm khác. Theo quan điểm của tôn giáo, họ đưa ra pháp luật khác. Hay nói cách khác, pháp luật chỉ là một cái tên gọi. Nhưng vấn đề đặt ra ở đây đó là những quy tắc chuẩn mực để điều chỉnh hành vi. Vậy thì trong đời sống hàng ngày chúng ta sẽ thấy rằng có rất nhiều cái quy tắc, những chuẩn mực để điều chỉnh hành vi. Ví dụ như đạo đức có điều chỉnh hành vi không? Câu trả lời là có. Những cái phong tục tập quán, những cái luật tập quán nó có điều chỉnh hành vi không? Là có. Và như vậy, tiếp cận cái nguồn gốc

4:34 của pháp luật ấy với việc là như là một quy tắc điều chỉnh hành vi thì chúng ta sẽ có rất nhiều khái niệm về pháp luật. Tuy nhiên, đứng vào quan điểm của chủ nghĩa min khi nói rằng nhà nước là một tổ chức đúng không ạ? mang quyền lực chính trị công cộng đặc biệt. Và như vậy nhà nước là chủ thể ban hành hoặc thừa nhận những quy tắc ứng xử chung đó mà chúng ta gọi đó là pháp luật. Như vậy về nguồn gốc ấy thì nó cũng được xem như là một hiện tượng của kiến trúc tượng tần và nó cũng bị quy định bởi cơ sở hạ tần đó là kinh tế. Về lịch sử hình thành thì các em thấy rằng đó nếu chúng ta tiếp cận cái quan điểm của chủ nghĩa Mar Linin các em sẽ thấy rằng là những hình thái kinh tế xã hội xuất hiện đó là hình thái kinh tế xã hội công sản nguyên thủy chiếm hữu nô lệ phong kiến tư sản và cộng sản chủ nghĩa thì có một hình thái kinh tế đầu tiên đó là cộng sản nguyên

5:20 thủy giống như chúng ta học trong phần nhà nước thì lúc đó chưa có cái gọi là nhà nước và chưa có nhà nước như vậy thì cũng theo quan điểm chủ nghĩa min như vậy chúng ta chưa có pháp luật như vậy cái gì đã điều chỉnh hành vi của các thành viên trong cộng đồng người trong cái thời điểm đó. Vậy lịch sử hình thành của nó bắt đầu từ cái quy tắc ứng xử và điều chỉnh hành vi đó là gì? Đó là tập quán, đó là tín điều tôn giáo hay đó là đạo đức. Và do cái sự phát triển, sự thay đổi của các quan hệ kinh tế dẫn đến tư hữu ra đời và dẫn đến phân hóa xã hội, phân tần xã hội dẫn đến hình thành giai cấp và mâu thuẫn giai cấp đối kháng không thể điều hòa được nữa. Lúc đó nhà nước ra đời và nhà nước ra đời thì lúc đó công cụ mà nhà nước để hình thành và quản lý xã hội đó chính là pháp luật. Như vậy pháp luật là cái được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội và đồng

6:06 thời để bảo vệ sự thống trị giai cấp. Như vậy pháp luật cũng giống như nhà nước, bản chất của nó vẫn mang tính giai cấp và tính xã hội. Và cái phương thức ra đời của pháp luật nó như thế nào? Phương thức ra đời của pháp luật thì các em phải tiếp cận hai góc cạnh khách quan và chủ quan. Như thầy vừa trình bày thì các em sẽ thấy rằng cái nguồn gốc làm ra đời nhà nước cũng chính là nguyên nhân làm ra đời. Cái nguyên nhân làm ra đời nhà nước cũng chính là nguyên nhân làm ra đời pháp luật. Hay nói cách khác là sự vận động thay đổi phát triển của xã hội dẫn đến từ một xã hội công hữu chuyển sang một xã hội tư hữu dẫn đến sự phân tần xã hội giai cấp xuất hiện dẫn đến sự mâu thuẫn đối kháng giai cấp không thể điều hòa được nữa. Nhà nước ra đời và chính đó là cái nguyên nhân cũng dẫn đến sự ra đời của pháp luật đúng không ạ? Và ở đây á người ta thường nói một câu rằng nhà nước ban hành hoặc thừa

6:53 nhận pháp luật. Vậy vấn đề thầy đặt ra cho các em nhà nước có trước hay là pháp luật có trước? đúng không ạ? Nếu người ta nói như vậy, nếu các em nhìn vào phương diện chủ quan, người ta đặt ra vấn đề là nhà nước là chủ thể ban hành ra pháp luật hoặc thừa nhận pháp luật, như vậy chúng ta phải hình dung ngay tức là một cách tiếp nhận thông thường là nhà nước có trước đúng không ạ? Nhưng có phải như vậy không? Nếu mà thầy đặt ngược lấy vấn đề nếu như vậy nhà nước hoạt động được hình thành và hoạt động trên cơ sở nào? Là pháp luật. Như vậy nếu không có pháp luật nhà nước có hình thành và hoạt động được không? Cái cơ sở pháp lý nào để nó tồn tại? Như vậy các em phải tiếp cận ở góc cạnh không phải chỉ là một vấn đề về mặt ngôn ngữ mà tiếp tiếp cận vấn đề về mặt lý luận. Có nghĩa là nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng song song và việc hình thành của nó là một quá trình đúng không ạ? Chứ nó không phải là một thời điểm nó

7:38 không rơi vào một thời điểm nhất định mà nó là một quá trình để chúng ta xử lý. Như vậy hai hiện tượng này là một quá trình hình thành song song. Vì như vậy tiếp nhận về mặt chủ quan pháp luật được hình thành bằng con đường nhà nước theo quan điểm chủ nghĩa mlin với hai cách nhà nước ban hành. Vậy nhà nước ban hành cái gì? Ví dụ ở Việt Nam các em đã từng thấy được những cái văn bản mà chúng ta gọi là văn bản quy phạm pháp luật. Ví dụ bộ luật hình sự, ví dụ nghị định của chính phủ, ví dụ thông tư của các bộ thì đó là những cái mà do nhà nước ban hành và nó chứa đựng quy tắc ứng xử mang tính bắt buộc chung như cái khái niệm ban đầu các em tiếp nhận đó. Thì cái đó là do nhà nước ban hành. Còn vế thứ hai nhà nước thừa nhận. Vậy nhà nước thừa nhận cái gì? Đúng không ạ? Và vấn đề ở đây là nhà nước thừa nhận các vi phạm xã hội, nhà nước thừa nhận từ các tín điều tôn giáo, nhà nước thừa nhận từ cái tập

8:24 quán, nhà nước thừa nhận từ cái vi phạm đạo đức. Mà những cái vi phạm xã hội này nó có lợi cho giai cấp thống trị, nó phù hợp với sự vận động và phát triển của xã hội. Nhà nước thừa nhận những vi phạm đó và xem nó như là quy tắc ứng xử chung cho toàn bộ cộng đồng xã hội chứ không phải cho tín đồ một tôn giáo nào cũng không phải cho thành viên của cộng đồng xã hội nào hết mà nó là quy tắc ứng xử chung. Và cái sự thừa nhận của nhà nước ở đây các em phải hình dung là nhà nước thừa nhận theo hai cách. Cách thứ nhất là nhà nước chấp nhận, công nhận những vi phạm xã hội đó và thể chế hóa nó vào những văn bản quy phạm pháp luật. Đó là cách thừa nhận thứ nhất. Thầy lấy ví dụ như trong luật dân sự chẳng hạn, pháp luật quy định rằng là nếu như tham gia vào một dân giao dịch dân sự mà có tranh

9:09 chấp xảy ra mà pháp luật không quy định hoặc hai bên không có thỏa thuận gì khác thì lúc đó có thể áp dụng luật tập quán để giải quyết vấn đề. Như vậy trong trường hợp này là thừa nhận đó đúng không ạ? Thừa nhận lần tập quán nhưng được thừa nhận trong luật. Một dạng thứ hai là nó rất phổ biến trên thế giới là thừa nhận là để cho hệ thống các vi phạm đó tồn tại song song cùng với hệ thống pháp luật. Và cái vi phạm đó thầy lấy ví dụ như luật tập quán của cộng đồng dân tộc A thì họ sẽ chấp nhận luật tập quán của cộng đồng dân tộc A. Nhưng ở đây có sự giới hạn đó là giới hạn về gì? Giới hạn về mặt phạm vi. Tức là sự thừa nhận đó luật đó chỉ áp dụng cho cộng đồng đó mà thôi. Và chủ thể là những thành viên của cộng đồng bởi lẽ nó không thể áp dụng cho một cộng đồng khác được. Đó với nhưng cái sự thừa nhận ở đây là sự song song tồn tại giữa hai hệ thống quy tắc ứng xử của hành vi. Một cái là pháp luật

9:55 do nhà nước ban hành. Một cái là pháp luật của cộng cộng đồng dân tộc thểu số và nhà nước thừa nhận. Nhà nước thừa nhận với một nguyên tắc là họ có thể vận dụng những quy tắc ứng xử trong đời sống của họ để giải quyết những cái tranh chấp, những mâu thuận của họ. Nhưng vấn đề đặt raở đây là nó không được trái với hiến pháp của nhà nước. Như vậy các em tiếp cận về phương thức ra đời của pháp luật thì các em cần phải tiếp cận ở hai góc cạnh như vậy khách quan và chủ quan. Khách quan thầy nhắc lại đó là các em tiếp cận về nguồn gốc ra đời của nhà nước cũng chính là nguồn gốc ra đời của pháp luật. Nguyên nhân làm ra đời nhà nước cũng chính là nguyên nhân làm ra đời pháp luật. Và đối về chủ quan thì pháp luật được hình thành bằng con đường nhà nước. đúng không ạ? Với hai cách đó là ban hành hoặc thừa nhận. Và từ cái góc cạnh tiếp cận đó các em sẽ đi vào một phần tiếp theo đó là bản chất và các mối liên hệ của pháp luật. Vậy thì bản chất của pháp luật là gì? Bản chất như

10:41 chúng ta đã từng nghiên cứu về phần nhà nước, bản chất là những quy luật bên trong quyết định những đặc điểm và khuynh hướng phát triển cơ bản của hệ thống vật chất. Đó, nếu nói như vậy thì chúng ta thấy rằng là khi chúng ta tiếp cận về cái pháp luật đó thì các em cũng thấy rằng là bản chất của pháp luật là những mối liên hệ, những quy luật bên trong mà quyết định những đặc điểm, những khuynh hướng phát triển cơ bản của pháp luật. Và khi chúng ta tìm hiểu về bản chất đúng không ạ? là chúng ta tìm hiểu những quy luật, những sự vận động bên trong của pháp luật đó để xem là pháp luật quá khứ hiện tại và chúng ta sẽ có một cái dự báo cho pháp luật tương lai nó như thế nào. Và trong cái bản chất của pháp luật, chúng ta nghiên cứu về hai vấn đề. Vấn đề thứ nhất là tính giai cấp của pháp luật. Tính giai cấp của pháp luật thì ở đây các em sẽ thấy yếu tố giai cấp có sự tác động đến với

11:27 nội dung của pháp luật và nó có chi phối đến sự phát triển nhưng đặc điểm cơ bản của pháp luật. Và pháp luật ra đời như chúng ta học về nguồn gốc ra đời của nhà nước hoặc nguồn gốc ra đời của pháp luật là một quá trình đấu tranh giai cấp. Và khi đó pháp luật được xem như là một công cự hữu hiệu nhất. Nó không phải là duy nhất nhưng nó là công cụ hữu hiệu nhất trong việc trấn áp đấu tranh giai cấp đúng không ạ? Và bảo vệ lợi ích cho giai cấp thống trị. Điều đó thầy nhắc lại một chút như phần nhà nước khi các em nghiên cứu về tính giai cấp đó các em phải trả lời được cho câu hỏi rằng pháp luật đó chủ yếu phụng sự lợi ích cho giai cấp nào? Do đó trước hết là họ phải bảo vệ pháp luật đó được sử dụng để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị và bảo vệ cái trật tự mà nó phải có lợi cho giai cấp thống trị. Và bên cạnh đó các em còn tiếp cận ở cái góc độ xã hội. Tức là khi

12:12 mà chúng ta tìm kiếm ở góc cạnh xã hội của pháp luật á là ngoài cái tính giai cấp, ngoài cái sự thống trị giai cấp, ngoài sự bảo vệ trật tự lợi ích theo ý chí hay cấp đó, pháp luật này nó có tác động đến điều chỉnh các quan hệ xã hội không? Câu trả lời là có. Và pháp luật nó gắn với nhu cầu quản lý và giữ trật tự chung của xã hội. Nó đưa ra một quy tắc ứng xử chung cho toàn bộ xã hội đúng không ạ? Và đó cũng chính là những nguyên nhân làm ra đời của pháp luật. Do đó pháp luật nó phải mang tính xã hội và pháp luật là cái phương tiện mà các em có thể thấy đó là mô hình hóa cách thức xử sự của các thành viên trong xã hội. Thầy lấy ví dụ như thế này là khi mà chúng ta nói pháp luật mô hình hóa, cách thức xử sự của các thành viên trong xã hội, thầy lấy ví dụ như có một hiện tượng xã hội xảy ra bây giờ có một người

12:58 đang trong tình trạng nguy hiểm tính mạng mà cụ thể hơn có một người đang té dưới sông đúng không ạ? Và rất là nhiều người đang đi qua đi lại con đường đó. Vậy thì các em hãy nói cho thầy biết là có bao nhiêu cách hành xử mà người đang đi trên đường có thể hành xử được. Thấy một người đang té xuống sông và họ kiêu cứu. Như vậy cách hành xử đầu tiên mà các em thấy cái phản ứng của những người đi qua đi lại đầu tiên nó là gì em? Dạ thưa thầy, cách hành xử đầu tiên mà đối với một người ví dụ như không biết bơi á thì người ta sẽ hô hoáng lên để kêu gọi những người khác cùng nhau cứu. Cái cách hành xử đầu tiên là nếu mình không có khả năng cứu thì mình gọi người khác cứu giúp. Cách hành xử thứ hai mà có thể xảy ra là gì hả em? Dạ thưa thầy, cách hành xử thứ hai nếu mà trong trường hợp mình có khả năng cứu và có khả năng

13:43 biết bơi á thì mình sẽ nhảy xuống mình sẽ cứu người. Cách hành sự thứ hai là cứu người. Cách hành sự thứ ba có thể có không em? Dạ cũng cá thở cá là đó là trường hợp mà đi qua chúng ta nhìn xong đi luôn à chúng ta bỏ đi. Cảm ơn em mời em ngồi. Các em thấy không ạ? Ở đây thầy nếu mà thầy tiếp tục cái câu chuyện các em sẽ thấy còn nhiều cách hành sự khác nhau. Như vậy thấy một người đang trong tình trạng nguy hiểm tính tính mạng người ta sẽ có cách nhiều nhiều cách xử lý khác nhau. Có thể người ta cứu người gọi người khác cứu. Có thể người ta bỏ đi, có thể người ta đứng coi thì đó là một cái sự kiện xảy ra trong đời sống. Nhưng cách hành xử của mỗi người là khác nhau. Và vì lẽ đó, cái cách hành xử nào mà chúng ta coi là hợp pháp và hợp lý nhất? Thì trong trường hợp này, pháp luật ở Việt Nam lại quy định rằng người nào thấy người khác đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có khả năng

14:30 cứu giúp mà không cứu giúp dẫn đến người đó chết thì sẽ bị phà cảnh cáo cải tạo không giam giữ hoặc sạc phạt tù từ 6 tháng đến 2 năm. Như vậy trong trường hợp này các em phải hiểu được rằng là cái mô hình của hành vi trong điều kiện hoàn cảnh này chúng ta phải làm gì? Chúng ta phải cứu người nếu chúng ta có điều kiện. Như vậy rõ ràng là pháp luật nó là một cái phương tiện để mô hình hóa hành vi để làm cho xã hội, cái hành sử của xã hội tuân theo một cái trật tự nhất định. Thầy lấy ví dụ tại sao chúng ta đi xe gắn máy ngoài đường tham gia lưu thông, chúng ta đi vào lời bên phải. Đó là một cái trật tự xã hội đã được sắp xếp đúng không ạ? Mà theo ý chí của nhà nước để đảm bảo cho trật tự nó được ổn định và nó được lưu thông suốt đúng không các em? Đó. Do đó đây là cái mà cái tính chất xã hội của pháp luật đó. Và trong cái bản chất của pháp luật đó

15:17 thì các em cũng còn thấy được một vấn đề rằng là pháp luật nó còn góp phần loại bỏ những quan hệ xã hội tiêu cực mà nó thúc đẩy những quan hệ xã hội tích cực. Thầy lấy ví dụ như trong trường hợp mà chúng ta thường nói là tảo hôn. Tảo hôn là cái trường hợp mà kết hôn dưới độ tuổi quy định đúng không ạ? Ví dụ căn cứ theo lượt hôn nhân gia đình 2014 của Việt Nam thì các em sẽ thấy rằng nếu kết hôn đúng độ tuổi kết hôn là nữ từ đủ 18 trở lên và nam từ đủ 20 trở lên. Đó từ đủ độ tuổi 20 trở lên và nếu như kết hôn dưới cái độ tuổi đó thì chúng ta gọi là tảo hôn đó. Và nhà nước cắm cái cái cái quan hệ đó xảy ra. Bởi lẽ cái đó được cho là tiêu cực đúng không ạ? Nó không phù hợp với xã hội hiện đại. Chính cái điều đó mà pháp luật nó sẽ góp phần để cho người Nga tự cho cho con người, cho cá nhân tổ chức tự điều chỉnh hành vi

16:02 của mình và tuân theo một cái trật tự nhất định để đảm bảo cho xã hội được ổn định. Thì đó là cái phần chất của pháp luật. Tức là đó là tính giai cấp và tính xã hội của pháp luật. Và trong cái tính giai cấp và tính xã hội của pháp luật thì có một vấn đề mà các em cần phải lưu ý đó là mối liên hệ giữa tính giai cấp và tính xã hội. Trong cái mối liên hệ này cũng giống như nhà nước các em đã từng nghiên cứu trong cái mối liên hệ giữa tính giai cấp và tính xã hội của pháp luật đây là mối liên hệ tỷ lệ nghịch. Bởi lẽ nếu như cái tính giai cấp nó càng lớn, tính xã hội nó sẽ càng giảm đi. Vì nó cứ chủ yếu phụng sự lợi ích cho giai cấp mà nó có chia sẻ quyền lực không bằng pháp luật. Thông qua con đường pháp luật nó có chăm lo các vấn đề xã hội không? Còn nếu như mà chăm lo nhiều hơn vấn đề xã hội có nghĩa là giới

16:48 hạn nhận đi cái tính giai cấp. một cái xã hội cân bằng tức là nếu một một xã hội có nhà nước nó mang tính chất cân bằng thì nó phải có cả tính giai cấp và tính xã hội. Nó phải mang tính chất căn cân bằng với nhau. Đó là vấn đề về bản chất. Đó là vấn đề về bản chất. Thì khi xử lý bản chất xong rồi thì các em cũng cần làm rõ thêm vấn đề về bản chất. Rõ thêm vấn đề về bản chất là khi các em tìm những cái mối liên hệ giữa tính giai cấp và tính xã hội, tức là những cái mối liên hệ xung quanh nó đúng không ạ? để chúng ta làm rõ thêm vấn đề bản chất trong dân gian. Và các em thường nghe nói câu câu câu câu nói là hãy nói cho tôi biết bạn của bạn là ai, tôi sẽ nói cho bạn biết bạn là người như thế nào. Các em nghe câu này rồi đúng không ạ? Hay nói cách khác, người ta đánh giá một con người không phải không phải chỉ

17:34 thông qua chính bản thân họ mà đánh giá còn thông qua những mối quan hệ xung quanh. Về pháp luật chúng ta cũng là như thế. Và trong cái mối liên hệ giữa cái tính giai cấp và tính xã hội đó là một mối quan hệ mâu thuẫn và thống nhất. là khi chúng ta nghiên cứu về các mối liên hệ giữa pháp luật với các hiện tượng xã hội khác là các em nghiên cứu tập trung nghiên cứu bốn mối liên hệ liên hệ giữa pháp luật với kinh tế, liên hệ giữa pháp luật với chính trị, pháp luật với nhà nước và pháp luật với các hiện tượng xã hội khác. Và cái cách thức để chúng ta tiếp cận nó là gì? Thứ nhất là chúng ta xác định yếu tố nào đóng vai trò quyết định và yếu tố còn lại nó sẽ tác động như thế nào. Đầu tiên là các em nghiên cứu về cái mối quan hệ giữa pháp luật với kinh tế. Trong cái này các em sẽ thấy yếu tố nào đóng vai trò quyết định. Như thầy nói từ đầu và như các em đã từng học triết học nhà nước và pháp luật là hai thành tố của kiến trúc thượng tần

18:21 và bị quy định bởi cơ sở hạ tầng đó là kinh tế. Như vậy trong mối quan hệ này kinh tế sẽ đóng vai trò quyết định và cái yếu tố còn lại đó là pháp luật đó là yếu tố bị quyết định. Và cái sự quyết định của kinh tế nó sẽ thể hiện qua ở chỗ kinh tế là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của pháp luật. Và cái kinh tế này nó mang tính chất quyết định toàn bộ đến nội dung hình thức và cơ cấu của pháp luật đúng không ạ? Cơ cấu và lẫn luôn cái sự phát triển của pháp luật nữa. À cái mối quan hệ và cái cơ cấu kinh tế, cái hệ thống kinh tế nó quyết định đến cơ cấu và hệ thống pháp luật. cái tính chất nội dung của quan hệ kinh tế quyết định về tính chất và nội dung của quan hệ pháp luật cũng giống như là cái phạm vi điều chỉnh của quan hệ pháp luật đó nó trên những cái cơ sở kinh tế và bên

19:07 cạnh đó cái chế độ kinh tế quyết định việc tổ chức và hoạt động của cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế như thế nào thì nó trên một cái nền tảng pháp luật. Đây là hai cái mối quan hệ song song. Pháp luật không bị quyết định một cách thù động mà pháp luật còn tác động trở lại đối với các quan hệ kinh tế. Cái tác động thứ nhất các em thấy là tác động tích cực. Nếu như pháp luật mà nó phù hợp với các quan hệ kinh tế nó sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển và nếu như pháp luật nó không phù hợp với các quan hệ kinh tế nó sẽ làm triệt tiêu hoặc nó làm kềm hãm hoặc nó làm rối loạn các quá trình kinh tế. Như vậy đây là mối quan hệ thứ nhất đúng không ạ? Giữa pháp luật với kinh tế. Mối quan hệ thứ hai giữa pháp luật với chính trị. Pháp luật với chính trị. Đây là mối quan hệ giữa hình thức và nội dung. Đó và pháp luật với chính trị đều là hai yếu tố của kiến

19:53 trúc thường tần. Và trong cái này nếu chúng ta nói rằng đây là mối quan hệ giữa hình thức và nội dung. Vậy cái nào đóng vai trò là hình thức? Cái nào đóng vai trò là nội dung? Trong mối quan hệ này, pháp luật đóng vai trò là hình thức và chính trị đóng vai trò và là nội dung. Tức là cái đường lối cái chính sách của đảng cầm quyền nó có thể hiện trong pháp luật không? Vì pháp luật bản chất các em thấy mang tính chất giai cấp nó phải thể hiện được ý chí giai cấp chứ đúng không ạ? Và ý chí giai cấp thể hiện trong qua đường lối chính sách của cái giai cấp đó và nó được cụ thể hóa thành pháp luật để trở thành một quy tắc ứng xử chung cho toàn bộ các thành viên trong cộng đồng xã hội có nhà nước đó. À và bên cạnh đó các em sẽ thấy rằng là sự tác động của chính trị đối với pháp luật và các quan hệ chính trị, chế độ chính trị phải ảnh hưởng đến nội dung tính chất và xu hướng phát triển của pháp luật. Pháp luật là hình thức thể hiện ý

20:40 chí của giai cấp thống trị. Cái này chúng ta thấy rất rõ đúng không ạ? Nếu các em liên hệ thực tiễn hoặc các em đọc trong những cái nghị quyết của Đảng đúng không ạ? Thì các em sẽ thấy rằng là những cái nội dung đó sẽ trở thành những quy tắc ứng xử mang tính bắt buộc chung. Và cái pháp luật là cái công cụ để chuyển hóa thành ý chí của giai cấp thống trị. Chuyển hóa thành ý chí giai cấp thống trị để bắt buộc những thành viên mà nó không thuộc vào tổ chức chính trị nào, không tổ chức đảng phái nào, không tổ chức tôn giáo nào, tất cả mọi thành viên đều như nhau và họ đều có một cách hành xử như nhau theo ý chí chung đó. Và như vậy cái pháp luật này nó là một cái công cụ để biến ý chí của giai cấp thống trị trở thành quy tắc sự chung có tính chất bắt buộc đối với các chủ thể. Và cái mối quan hệ thứ ba là mối quan hệ với nhà nước. Trong mối quan hệ với nhà nước này thì đây là mối quan hệ giữa hai yếu tố thuộc kiến trúc thương

21:26 tận và cái mối quan hệ giữa công cụ quản lý, giữa cái tổ chức quản lý và công cụ quản lý. Nhà nước là tổ chức quản lý và nhà nước sử dụng pháp luật như một công cụ quản lý. Như vậy trong cái mối quan hệ này cái nội dung của nó là gì? Nhà nước ban hành và đảm bảo cho pháp luật được thực hiện và tổ chức hoạt động của nhà nước phải dựa trên khuôn khổ của pháp luật. Nhà nước thực hiện quyền lực nhưng phải tôn trọng pháp luật. Điều đó có nghĩa rằng là nhà nước dầu rằng nhà nước là chủ thể ban hành ra pháp luật nhưng không có nghĩa là nhà nước đứng trên pháp luật mà nhà nước ban hành ra quy tắc ứng xử chung thì chính cái quy tắc đó cũng phải là quy tắc ràn buộc đối với nhà nước, đối với cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước. Đúng không ạ? Đây là mối quan hệ đặc biệt giữa nhà nước và pháp luật. Và mối quan hệ cuối cùng là mối quan hệ giữa pháp luật với các quy

22:12 phạm xã hội. Các quy phạm xã hội ở đây là thầy muốn đề cập đến vi phạm đạo đức, vi phạm tôn giáo và vi phạm à tập quán. Trong các mối quan hệ đó, các em thấy rằng tất cả những vi phạm này đều được xem là quy tắc ứng xử của hành vi. Nhưng mà nó là quy tắc ứng xử hành vi. Nhưng cái sự khác biệt ở đây là các chủ thể ban hành cho nó có thể không giống nhau, tạo nên nó không giống nhau. Nhưng cái quan trọng nhất là ở đây nó cùng kiến tạo một trật tự chung của xã hội vì tác động vào hành vi con người. Các em sẽ thấy một điều này rất rõ. Bởi lẽ trong cái cách hành xử hàng ngày của mình đó, các em sẽ bị tác động bởi rất nhiều các chuẩn mực của hành vi. Ví dụ chúng ta thấy đèn đỏ chúng ta dừng lại. Tại sao chúng ta phải dừng lại đèn đỏ đúng không ạ? Khi chúng ta tham gia lưu thông trên đường và chúng ta thấy đèn đang đỏ đúng

22:58 không ạ? Và chúng ta dừng lại bởi lẽ là pháp luật yêu cầu chúng ta làm điều đó. Nhưng mà ví dụ về nhà chúng ta phải yêu kính ông bà cha mẹ tôn trọng thầy cô. Đó là đạo đức đó đúng không ạ? Và chúng ta có tuân thủ theo chuẩn bực đó không? Câu là có đúng không ạ? Và tại sao những cái tín đồ tôn giáo họ phải ch tuân theo những cái chuẩn mực tôn giáo? Vì đó là quy tắc ứng xử hành vi. Nhưng mà trong cái mối quan hệ đó chúng ta thấy một điều pháp luật nó thể chế quá nhiều vi phạm đạo đức tập quán để trở thành vi phạm pháp luật. Và trong trường hợp này nó có sự tương tác về phạm vi điều chỉnh và mục đích điều chỉnh. Ở trong đây nó có ba tương tác. Tương tác thứ nhất mà các em thấy là pháp luật và vi phạm xã hội nó có thể điều chỉnh cùng một hướng. Thầy lấy ví dụ là con cái phải có nghĩa vụ kính cộng ông bà cha mẹ. Thì điều này

23:43 trong luật mình cũng quy định về điều đó. Truyền thống cũng quy định về điều đó và tập quán chúng ta cũng thế. đạo đức cũng vậy. Như vậy thì qua cái phần đầu tiên các em thấy được rằng chúng ta vừa nghiên cứu về nguồn gốc ra đời của pháp luật, về bản chất của pháp luật. Vậy thì chốt lại vấn đề khi nghiên cứu về nguồn gốc ra đời pháp luật, các em phải tiếp cận thứ nhất là mặt khách quan. Pháp luật nguyên nhân làm ra đời nhà nước chính là nguyên nhân làm ra đời pháp luật. Tiếp cận ở góc độ chủ quan là nhà nước pháp luật ra đời bằng con đường nhà nước theo hai cách. Đó là nhà nước ban hành hoặc thừa nhận. Cái đó là về nguồn gốc. Về bản chất các em phải hình dung câu chuyện. Tức là nói về bản chất là những nói về quy luật những thuộc tính bên trong để quyết định sự tồn tại của sự vật hiện tượng. Đó thì bản chất

24:28 của pháp luật các em lại tiếp cận hai vấn đề đó là tính giai cấp của pháp luật và tính xã hội của pháp luật. Tính giai cấp của pháp luật nó sẽ trả lời cho câu hỏi là pháp luật đó chủ yếu phụng sự lợi ích giai cấp nào? Tính xã hội của pháp luật sẽ trả lời là pháp luật đó nó có chia sẻ quyền lực cho các giai cấp khác không? và nó có giải quyết tất cả các vấn đề xã hội không. Và cuối cùng thì các em phải xác định được mối liên hệ giữa tính giai cấp và tính xã hội nó như thế nào. Thì đó là cái phần đầu tiên khi các em tiếp cận về nguồn gốc và bản chất của pháp luật. Thì thầy sẽ kết lại vấn đề ngay chỗ này để chúng ta tiếp qua phần thứ hai. Cảm ơn các em. Yeah.

Share

YouTube Video Summaries