0:00 [âm nhạc] Xin chào các em. Hôm nay chúng ta bắt đầu bài quan hệ pháp luật. À các em đã có những bài trước bài nguồn gốc, bản chất và các cái vấn đề chung pháp luật cũng như vấn đề chung về nhà nước. Hôm nay chúng ta đi vào cái phần à xem hệ tìm hiểu xem luật nó đi vào trong thực tế cuộc sống như thế nào. À bài này có
0:46 những cái nội dung cơ bản sau đây, những mục tiêu cơ bản sau đây. Một á là chúng ta sẽ nắm được, hiểu được biết được các cái thành phần, cái khái niệm, thành phần quan hệ pháp luật. hiểu được các cái loại sự kiện pháp lý, nhận diện được những quan hệ pháp luật này trên thực tế. Tức là chúng ta thông qua cái học lý thuyết này, chúng ta sẽ nắm bắt được những cái sự kiện trên thực tế, những cái quan hệ nó diễn biến trên thực tế như thế nào. Và cũng như thế chúng ta có thể nhận diện được các cái sự kiện pháp lý nó làm nảy sinh quan hệ pháp luật như thế nào. À và sau bài học này các em có thể tự kiểm tra, tự đánh giá xem cái mục tiêu của bài học có đạt được hay không bằng cách bằng các cái mục tiêu đặt ra trước và bằng cách đặt câu hỏi cho cái mục tiêu này có có đạt được với cái cái cái giờ học đã kết thúc
1:32 của mình hay không. Nội dung chính của bài này có ba phần. Một là khái niệm đặc điểm của quan hệ pháp luật. Đây là cái phần quan trọng nhất cung cấp lý thuyết cơ bản về hay nói một cách khác nó trả lời câu hỏi quan hệ pháp luật là gì. Hai là cái phần này nó mô tả chúng ta biết cái cấu trúc, cái thành phần của cái quan hệ pháp luật, cái kết cấu của nó của cái quan hệ pháp luật. Và phần thứ ba là sự kiện pháp lý. Tôi sẽ trình bày các em lần lượt ba cái thành phần này. Chúng ta đi vào cái phần thứ nhất, khái niệm và đặc điểm quan hệ pháp luật. Khái niệm quan hệ pháp luật thì như tôi chúng ta đã biết đó là gì? Đó là những cái quan hệ xã hội. Tôi nhấn mạnh những cái nội dung chính và quan trọng nhất của quan hệ pháp luật mà tôi đã gạch chân trên cái
2:17 slide là quan hệ xã hội và thứ hai là được quy phạm pháp luật điều chỉnh. Thứ ba là nó các bên trong đó đáp ứng được những điều kiện do pháp luật quy định. và những và có những quyền về nghĩa vụ pháp lý. Tôi sẽ phân tích những cái những cái nội dung những cái đặc điểm này. Ờ và những cái đặc điểm này chính cũng là kết cấu nên cái khái niệm quan hệ pháp luật. Ngoài ra những cái đặc điểm này, ngoài những đặc điểm này ra đó người ta còn có bổ sung thêm người ta có những quan điểm người ta đưa thêm những cái cái cái đặc điểm những cái tính chất khác. Ví dụ như là tính xác định của quan hệ pháp luật. Xác định là gì? Tức là biết được, đọc được, thấy được, tính toán được. Thứ hai nữa là tính được đảm bảo thực hiện bởi nhà nước. Tức là quan hệ pháp luật được diễn ra trên thực tế thì nhà
3:02 nước có trách nhiệm và có nghĩa vụ phải đảm bảo cái quan hệ được diễn ra một cách đúng luật, một cách đúng các cái tiêu chí, các yêu cầu của luật đặt ra. Tôi lần lượt đi phân tích những cái đặc điểm, những cái đặc trưng cơ bản mà tôi vừa trình bày. Thứ nhất đó là được quy phạm pháp luật điều chỉnh. Thì chúng ta phải quay lại một chút cái từ điều chỉnh. Cái khái niệm điều chỉnh. Cái này các anh chị đã được tìm hiểu trong cái bài hệ thống pháp luật. Ở đây tôi xin nói một cách ngắn gọn và dễ hiểu. Điều chỉnh tức là chúng ta tác động vào nó. Ví dụ như chúng ta nói điều chỉnh thông thường là tăng hay giảm thì đây chúng ta tác động vào nó ẩm nghĩa rộng hơn. Và bên cạnh cái sự tác động nó còn có tính mục đích tức là điều chỉnh. Nhưng tác động nhưng có tính mục đích thì chúng ta
3:48 tạm gọi là điều chỉnh. Tức là định mục đích là định hướng hướng đến cái gì đó, đạt được cái gì đó thì quy phạm pháp luật. À quan hệ pháp luật là được quy phạm pháp luật điều chỉnh. Tức là quan hệ này được quy phạm pháp luật tác động đến và à tác động này có cái tính mục đích. Lý do của cái sự điều chỉnh á là pháp luật thiết lập một cái trật tự trung trong xã hội. Ví dụ chúng ta ngồi đây chẳng hạn như một xã hội thu nhỏ thì có những người con người rất khác nhau, mục đích khác nhau, động cơ khác nhau. Nhưng mà chúng ta sống chung với nhau, tức là chúng ta va chạm với nhau thì có sẽ có thể có những xung đột thì cái xung đột đó phải được giảm thiểu và thiết lập cái trật tự trung. Và việc thiết lập đó bằng việc đặt ra các chuẩn để cho chúng ta đi theo, làm theo và trật tự được thiết
4:34 lập. Và cái điều chỉnh của quý phạm này á là nó có tính phổ biến, tức là nó lặp đi lặp lại, nó phổ biến với tất cả các cái quan hệ mà luật đã được thiết lập để điều chỉnh. Và vì vậy cho nên quy phạm luật nó không điều chỉnh tất cả các quan hệ chung chung, quan hệ quan hệ tất cả các quan hệ xã hội mà điều chỉnh những quan hệ nào một là cần thiết nhất, quan trọng nhất và hai là nó lặp đi lặp lại. Có những quan hệ nó xảy ra một lần và không bao giờ xảy ra nữa thì luật không điều chỉnh. Đó. Ờ vậy thì điều chỉnh theo hướng nào? Như tôi vừa nói tính mục đích á thì đây chúng ta hiện cái nội dung và mục đích điều chỉnh nó hướng đến nó nó có hai cái hướng hai cái nội dung điều chỉnh cơ bản. Một là thúc đẩy. Ví dụ như có những quan hệ nó tốt đẹp đúng không? Ví dụ quan hệ mua bán, quan hệ giao dịch thì nó sẽ làm cho xã hội nó
5:19 thịnh vượng phát triển hơn thì đây luật sẽ điều chỉnh mang tính thúc đẩy mở rộng nó ra. Thế nhưng cũng có những cái quan hệ thì nó tạo ra cái sự bất ổn cho xã hội, nguy hiểm cho xã hội. Trong trường hợp này thì luật sẽ hạn chế giảm thiểu và tiến tới loại bỏ nó trong xã hội. Bây giờ có một vấn đề đặt ra với các anh chị là quan hệ đạo lý có thể được pháp luật điều chỉnh hay không? Nào mời các bạn. Xin mời em. Dạ em thưa thầy quan lý quan hệ đạo đạo lý do em theo em là có thể cho quan hệ pháp luật điều chỉnh. Rồi cảm ơn em. Ờ để làm rõ hơn thì tôi lấy ví dụ như thế này. Ví dụ như quan hệ giữa con cái và cha mẹ. Đây là quan hệ đạo lý tình cảm luân lý gia đình. Nhưng
6:06 mà trong một chừng mực nào đó nó cũng thể có thể được luật điều chỉnh. Ví dụ như quan hệ về nghĩa vụ chăm sóc nuôi dưỡng thì lúc này á là nó luật điều chỉnh. Như vậy chúng ta thể có thể hiểu là vi phạm pháp luật và các vi phạm xã hội khác cùng điều chỉnh trong một số quan hệ đấy. Cùng điều chỉnh một số quan hệ nhất định tạo trật tự và trong trường hợp này nó cùng điều chỉnh chứ nó không cũng có nghĩa là luật điều chỉnh rồi thì các quan hệ xã hội khác không điều chỉnh nữa. Các quan hệ xã hội khác không được các quy phạm điều chỉnh nữa mà chỉ mà có thể trong trường hợp một quan hệ xã hội có thể có quy phạm pháp luật điều chỉnh, có quy phạm xã hội cùng điều chỉnh. Như vậy tóm lại cái phần thứ nhất này chúng ta hiểu thế nào là được quy phạm pháp luật điều chỉnh đúng không ạ? Nói một cách nô na đó là được nó nó bị tác động bởi quy phạm pháp luật và sự tác động này có định hướng. Tôi nhắc lại được quy
6:51 phạm pháp luật điều chỉnh có nghĩa là được quy phạm pháp luật tác động đến và sự tác động này có tính định hướng có mục đích với cái hướng là mở rộng hay thu hẹp thúc đẩy hay kìm hãm. Được chưa? Chúng ta sang phần thứ hai, sang cái ý thứ hai của cái cái đặc điểm thứ hai là cái quan hệ pháp luật nội dung của nó là quyền và nghĩa vụ pháp lý. Bất cứ một cái gì cái quan hệ nó diễn ra nó cũng về một cái gì đó có một cái nội dung nào đó. Ở đây á là cái cái chúng ta hiểu cái nội dung đó là sự tương tác giữa các bên trong quan hệ đó. Ví dụ như quan hệ đạo đức giữa cha mẹ và con cái thì là thương yêu chăm sóc. Cái sự thương yêu chăm sóc đó là nội dung nó thể hiểu bằng thể hiện bằng những cái hành vi những cái quyền và nghĩa vụ. Thì quan hệ pháp luật cũng vậy. Đó là sự tương tác giữa các bên trong quan hệ đó với nhau và nó được quy
7:38 định trong luật, nó được xác định trong luật có thể làm gì, không được làm gì. Và cái nội dung quan hệ nó diễn ra thì được pháp luật điều chỉnh, được quy định rất là rõ. Ở đây có vấn đề đặt ra là các quan hệ này khi tương tác với nhau, khi các bên tương tác với nhau thì có thể thỏa thuận trong phạm vi pháp luật cho phép hay không? thì câu trả lời là vẫn có thể. Ví dụ như hai bên giao kết hợp đồng thì vẫn có thể thả thuận những cái nội dung khác mà luật cho phép. Ví dụ như thời gian, ví dụ như cách thức giao, nhận hàng và tiền. Thì đấy là cái nội dung thứ hai, cái đặc điểm thứ hai của quan hệ pháp luật. Nói một cách ngắn gọn, quan hệ pháp luật nội dung của nó là sự tương
8:25 tác giữa các bên bao gồm quyền và nghĩa vụ và được quy định trong luật. Chúng ta sang nội dung thứ ba, cái đặc trưng thứ ba của quan hệ pháp luật đó là quan hệ mang tính ý chí. Ý chí ở đây là gì? Chúng ta hiểu đó là mong muốn đó là tính chủ quan của con người, của xã hội, của nhà nước. Thế thì ý chí trong quan hệ pháp luật nó thể hiện là ý chí của các bên. Các bên là gồm ai? Gồm nhà nước, gồm các bên trong quan hệ với nhau. À và ý chí của trong chong trong một số trường hợp thì có hai bên quan hệ với nhau mà không hiện diện nhà nước với tư cách là một bên trong đó. Ví dụ như mua bán hợp đồng dân sự giữa hai cá nhân với nhau thì lúc này chúng ta không thấy nhà nước ở đây nhưng nó cũng hiện diện ý chí nhà nước với tứ cách là người sắp đặt thiết kế à các cái nội dung quan hệ pháp luật đó và định hướng quan hệ pháp luật
9:10 đó. Như vậy chúng ta thấy trong quan hệ pháp luật nó có ý chí của loại chủ thể thứ nhất là nhà nước. Có thể là với tư cách là một bên có thể với tư cách là là người điều chỉnh không tham gia trực tiếp vào quan hệ đó. và ý chí của hai bên với nhau trong quan hệ với nhau nếu như không phải là nhà nước hay chúng ta gọi là bên khác. Tiếp theo nữa là chúng ta có thể đặt một câu hỏi là làm sao chúng ta biết được có cái ý chí nó thể hiện trong một quan hệ thì rất là rõ nếu chúng ta thấy là ví dụ chúng ta là bên trong đó à ta muốn tham gia và ta chào hàng cái sự chào hàng của chúng ta là thể hiện ý chí cái sự đồng ý của chúng ta với bên kia nếu bên kia chào hàng cũng là thể hiện ý chí thì rất là rõ ờ và chúng ta lựa chọn tham gia và tham gia vào đó còn đối với nhà nước thì
9:56 ý chí nó thể hiện trong cái nội dung dung của cái quy phạm pháp luật tôi điều chỉnh. Ví dụ hợp đồng mua bán phải được làm bằng văn bản thì cái cái mệnh lệnh là được làm bằng hay phải làm bằng văn bản á là ý chí của nhà nước. Nhà nước muốn thế để dễ kiểm soát, để theo dõi, để làm bằng chứng khi giải quyết tranh chấp. À và như vậy chúng ta thấy là cái ý chí quan hệ trong một quan hệ nó có thể thể hiện rất nhiều hình dạng khác nhau. Nhưng đối với pháp luật thì đó là ý chí của nhà nước. với tư cách là một bên hoặc với tư cách là người sắp đặt cho quan hệ đó và ý chí của các bên với nhau. Tóm lại trong cái đặc điểm này chúng ta phải chú ý cái cái nội dung ý chí là gì? Của ai và nó thể hiện như thế nào? Và như tôi đã trình bày ý chí của ai? Của nhà nước, của các bên nó thể
10:42 hiện như thế nào? Thể hiện bằng sự tham gia nếu như là các bên thể hiện bằng sự sắp đặt thiết kế cái quan hệ đó nếu là của nhà nước. Và đấy là cái đặc điểm thứ ba của cái quan hệ pháp luật so với các cái quan hệ xã hội khác. Tôi nhệ xã hội khác thì nó không có những cái đặc điểm này. Và đây là một cái bài tập để chúng ta thử xác định cái quan hệ pháp luật. Ví dụ như A là một tín đồ và tặng cho B là người đứng đầu một cơ sở tôn giáo, một cái mảnh đất để xây dựng cơ sở tôn giáo. Thì đây có thể phải là quan hệ pháp luật hay không? Dấu hiệu nào cho thấy quan hệ pháp luật được thực hiện và ý chí nó được thực thể hiện như thế nào? Cái bài tập này chúng ta có thể thực hành ở nhà bằng cách các
11:29 anh chị trả lời câu hỏi và chúng ta trả lời, chúng ta trao đổi thảo luận với nhau cũng như trên lớp. À gợi ý của chúng ta, gợi ý của tôi ở đây là các anh chị cứ căn cứ vào cái lý thuyết cái khái niệm quan hệ pháp luật để rồi chúng ta xem xét xem là một là xác định có phải quan hệ pháp luật hay không hay chúng ta trả lời câu hỏi là nó có được quy phạm pháp luật điều chỉnh hay không. Thứ hai, dấu hiệu nào cho thấy quan hệ được thực hiện, được hình thành, được thiết lập thì chúng ta thấy là khi một quan hệ nó xảy ra thì có sự tương tác giữa các bên, có các chủ thể. Thế còn nếu ví dụ một bên đồng đề nghị, bên kia không đồng ý, như vậy nó không có quan hệ đúng không? Nếu như có sự chấp thuận hai bên và quan hệ thiết lập, nó có thể xuất hiện bằng những cái dấu hiệu, những cái bằng chứng ví dụ như giấy tờ chứng, giấy tờ chứng minh hoặc
12:14 cái sự xác lập hoặc cái sự thừa nhận của bên thứ ba. Và chúng ta cũng tìm hiểu xong cái bài tập này xem là ý chí các bên nó thể hiện ra bên ngoài như thế nào. Làm sao chúng ta biết được là có cái sự mong muốn tham gia, có cái sự đồng ý tham gia trong quan hệ này. Các anh chị có thể trao đổi và tìm hiểu thêm những điều đó ngoài giờ cái cái giờ học trên lớp. Như vậy tôi đã giải quyết xong cái lời thứ nhất là khái niệm và đặc điểm của quan hệ pháp luật. Trong cái đặc điểm có pháp luật chúng ta lưu ý ba cái đặc điểm chính một là được quy phạm pháp luật điều chỉnh. Hai nội dung quyền ngụ pháp lý có ý chí chủ thể các bên. Một cái vấn đề thứ hai rất quan trọng trong cái bài quan hệ pháp luật đó
13:00 là thành phần của quan hệ pháp luật. Thành phần quan hệ pháp luật gồm có chủ thể, nội dung và khách thể quan hệ pháp luật. Ba cái nội dung này nó kết cấu nên nó tạo nên cái cái cái quan hệ pháp luật về mặt cấu trúc và cũng như về mặt thực tiễn. Thế bây giờ chúng ta đã xong cái phần lý thuyết. Chúng ta nắm được ba cái đặc trưng cơ bản nhất của quan hệ pháp luật khi so sánh với quan hệ xã hội khác không phải là quan hệ pháp luật. Để hiểu rõ hơn cái phần lý thuyết này, chúng ta sẽ thực hành bằng một cái bài tập ngắn. Và qua cái bài tập này, chúng ta sẽ nhận diện được, sẽ biết cách xác
13:46 định được cái quan hệ pháp luật trên thực tế nó như thế nào. Bài tập này rất là ngắn thôi. Tôi xin đọc sơ lược cái bài tập A là một cá nhân, một tín đồ tặng cho B. đại diện hay cái người đứng đầu một cơ sở tôn giáo một cái mảnh đất và cái mảnh đất này á a tặng thì với mục đích là để xây dựng cái nơi thực hiện lễ nghi tôn giáo đó sự kiện nó diễn ra vấn đề đặt ra ở đây chúng ta có ba cái câu hỏi cần phải được trả lời và khi trả lời xong các câu hỏi này chúng ta từng bước từng bước trả lời câu hỏi này chúng ta dần dần nắm được và biết cách nhận diện cái quan hệ đó trên thực
14:34 tế, cái quan hệ pháp luật trên thực tế. À tôi trình bày lần lượt các câu hỏi. Câu hỏi thứ nhất à cái quan hệ giữa A và B ở đây có phải có phải và có thể là quan hệ pháp luật hay không? Các em suy nghĩ rồi. Theo các em có phải là quan hệ pháp luật hay không và tại sao? Mời em. Dạ thưa thầy, theo em nghĩ mối quan hệ giữa tín đồ và người đứng đầu cơ sở tôn giáo được thể hiện trong đây đó chính là quan hệ pháp luật. Vì theo em nghĩ nó thỏa mãn hoàn toàn các tính chất của một quan hệ pháp luật. Thứ nhất là nó thể hiện cái ý chí tức nghĩa là một người một người tín đồ thể hiện cái ý chí muốn tặng cho bên B một cái mảnh đất để xây dựng. Thứ hai là mang tính là
15:19 được quy phạm pháp luật điều chỉnh. Vì à cái trong một cái hợp đồng tặng cho thì pháp luật sẽ đề ra được những cái điều kiện, những cái hình thức mà à các bên tham gia quan hệ tặng cho phải đáp ứng được. Và cái thứ ba là em nghĩ đó là cái quan hệ cái quan hệ pháp luật này nó cũng khá là phổ biến trong xã hội. Cho nên em nghĩ đó là quan hệ pháp luật. Cảm ơn em. Như vậy bạn đã cho chúng ta thấy là đây là một quan hệ pháp luật và cái điểm xác định quan trọng nhất mà bạn đã nêu ra đó là gì? Được quy phạm pháp luật điều chỉnh. À câu hỏi thứ hai là làm sao chúng ta biết là cái quan hệ nó được thực hiện rồi, nó có rồi, nó xuất hiện rồi? Dựa vào những cái bằng chứng nào, dựa vào những cái hiện tượng nào chúng ta biết quan hệ pháp luật này nó đã thực hiện, nó được thực hiện, nó hiện diện, nó tồn tại rồi. Rồi xin mời các em, xin mời
16:07 bạn. Thầy em nghĩ là cái dấu hiệu để mà xác định đây là quan hệ phép luật thì là cái việc mà a là tín đồ tặng cho b là người đứng đầu của công an tôn giáo. À rồi cảm ơn em. Như vậy là ở đây bạn đã cho thấy là cái quan hệ hiện diện khi mà cái lời đề nghị và cái sự chấp thuận của các bên cái sự tặng cho này và có thể làm bằng hợp đồng, bằng giấy, bằng văn bản. À vấn đề cuối cùng là à nó khó hơn một chút. Làm sao chúng ta biết á là có ý chí, có sự mong muốn, có cái sự nhận thức rõ ràng của các bên khi tham gia vào quan hệ pháp luật này và quan hệ này. Nào xin mời các bạn.
16:53 Xin mời bạn. Thầy ở đây theo em nghĩ là cái ý chí được thể hiện trong việc mà A là một tín đồ thì A ở đây muốn tặng cho B một mảnh đất để xây dựng cái để tiến hành lễ nghi thì ở đây là thể hiện từ ý chí đơn phương của A. A muốn như vậy và B cũng chấp thuận như vậy cho nên thể hiện ý chí của hai bên. Vâng, cảm ơn em. Đúng là như vậy. Ý chí là những cái thứ nó diễn ra bên trong đầu chúng ta. Nó chỉ có thể thể hiện được thông qua cái hành vi. thông qua hành vi ví dụ hành vi là đề nghị và bên kia chấp thuận hoặc là có thể xa hơn như là hai bên cùng nhau thỏa thuận và ký vào cái hợp đồng cho tặng và trong trường hợp này hoặc là đi công chứng cùng nhau đi đến công chứng à để xác nhận để chuyển dịch tài sản hoặc
17:39 trong trường hợp mua bán đó là chuyển dịch sở hữu ví dụ như chuyển nhà chuyển hàng và bên kia nhận tiền thì đấy chính là những cái dấu hiệ những cái biểu hiện cho thấy các bên trong quan hệ này cái ý chí của các bên trong quan hệ này. Và ở đây tôi nói thêm một chút nữa ý chí của nhà nước nó ở đâu? Trong một số quan hệ thì nó không rõ lắm. Ví dụ như quan hệ mua bán thông thường với những cái cái phẩm vật nó có giá trị thấp. Thế nhưng mà chúng ta chỉ có thể thể thấy được trong những cái nguyên tắc của luật. Ví dụ trong luật dân sự là các bên bình đẳng thỏa thuận cùng trao đổi ngang giá chẳng hạn thì đối ý chí nó rõ hơn. Và ý chí nó rõ hơn nữa, khi các bên vi phạm thì nhà nước sẽ giải quyết tranh chấp hoặc là à xử lý các bên
18:25 khi bị vi phạm. Thì trong trường hợp này, ý chí của nhà nước nó thể hiện rất rõ là anh phải làm theo cái cái sự sắp đặt, cái sự thiết kế của nhà nước. Nếu trái thì anh sẽ phải bồi thường, anh sẽ phải gánh chịu cái hậu quả bất lợi, anh sẽ bị trừng phạt nếu như cái lĩnh vực luật khác, ví dụ luật hình sự hoặc trong trường hợp này anh phải bồi thường, anh phải xin lỗi vân vân trong luật dân sự. Tóm lại qua cái ví dụ này, qua cái bài tập nhỏ này, chúng ta thấy là quan hệ pháp luật nó là quan hệ giữa các bên trong xã hội. Nó diễn ra một cách bình thường nhưng nó được quy phạm pháp luật điều chỉnh. Chúng ta sẽ học thêm các ngành luật cụ thể. Chúng ta thấy là các quy phạm điều chỉnh những quan hệ khác nhau. Ở đây với năm thứ nhất chúng ta mới dừng lại cái vấn đề lý luận thôi.
19:10 Sau này chúng ta sẽ biết có những cái nhiều quy phạm pháp luật nó điều chỉnh những cái quan hệ xã hội nhất định. Trong trường hợp này, trong trường hợp ví dụ này chúng ta thấy đó là gì? Quy định pháp luật về hợp đồng tặng cho tài sản, quy định pháp luật về công chứng hợp đồng vân vân. Thì đấy là cái cái quan hệ pháp luật nó được quý phạm pháp luật điều chỉnh là như vậy. Và chúng ta qua ví dụ chúng ta cũng thấy được là nó cũng thể hiện cái ý chí của các bên, cái mong muốn của các bên khi tham gia vào quan hệ pháp luật. Và cái ý chí này á nó thể hiện là gì? Là cái sự chấp nhận, thể hiện là cái sự đồng ý. Ví dụ a à gợi ý là tặng cho, b đồng ý nhận. Và nó thể hiện ra bên ngoài bằng các hành vi. Nội dung là cái ý là cái sự chấp nhận, là cái sự đồng ý. Nhưng nơi thể hiện ra bên ngoài bằng các hành vi. Ví dụ như đồng ý
19:56 bằng văn bản, đồng ý bằng ký vào hợp đồng và đấy chính là những cái cách mà chúng ta xác định một cái quan hệ pháp luật. À trên thực tế chúng ta xác định được cái ý chí của các bên, cái nội dung của các bên đặc điểm quan hệ pháp luật trên thực tế. Và một cái điều cuối cùng nữa là chúng ta phải so sánh chúng được với nhau giữa quan hệ pháp luật với quan hệ xã hội khác. À đến đây chúng ta có thể dừng cái phần thứ nhất đó là cái khái niệm và đặc điểm quan hệ pháp luật. Và một lần nữa trước khi kết thúc tôi nhắc các anh chị nắm được các bạn nắm được cái yếu tố cái nội dung cốt lõi của cái bài này đó là quan hệ pháp luật là gì? quan hệ pháp luật có đặc điểm gì và nó
20:42 khác với quan hệ xã hội, quan hệ không phải quan hệ pháp luật khác như thế nào? Và đấy chính là khi chúng ta trả lời được câu hỏi này, tức là chúng ta đã xác định được mục tiêu của cái một phần mục tiêu của bài này có đạt được hay không. Tôi xin dừng ở đây và xin chào các em. [Vỗ tay]