0:00 [âm nhạc] Chào các em. Hôm nay chúng ta lại tiếp tục bài học về thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật. Hôm trước chúng ta đã tìm hiểu về các trường hợp cần phải áp dụng pháp luật. Hôm nay chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu về các đặc điểm của hoạt động áp dụng pháp luật. Thế thì khi nói về đặc điểm của áp dụng pháp luật có nghĩa là chúng ta tìm ra các cái đặc trưng trong cái hoạt động áp dụng pháp
0:46 luật nó như thế nào. Thế thì những cái điểm đặc trưng này các em cũng có thể nhận diện về áp dụng pháp luật cũng như là so sánh nó với các hoạt động khác. Thế thì đầu tiên chúng ta nói đến hoạt động áp dụng pháp luật là một hoạt động mang tính tổ chức thể hiện quyền lực nhà nước. Thế thì tính tổ chức thể hiện quyền lực nhà nước nó được thể hiện như thế nào? Các em cũng thấy rằng là tính tổ chức thể hiện quyền lực nhà nước được thể hiện rất là rõ trong các hoạt động áp dụng pháp luật bởi vì nó được thực hiện thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc là các chủ thể được nhà nước trao quyền và nó có thể được áp dụng bắt buộc với các cái chủ thể hoặc là các chủ thể có liên quan nữa. Các em cũng thấy rằng ở đây chúng ta nói đến tính tổ chức thể hiện quyền lực nhà nước. Bởi lẽ là trong hoạt động áp dụng
1:33 pháp luật nó có các cái trình tự thủ tục, nó có cái việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ căn cứ vào các cái quy định của pháp luật để mà tổ chức sắp xếp cho các cái chủ thể thực hiện các quyền và các cái nghĩa vụ nhất định. Và ở đây chúng ta cũng thấy được rõ nét nhất là cái tính quyền lực của nhà nước. Tính quyền lực của nhà nước có nghĩa là gì? À có nghĩa là cái khả năng áp đặt ý chí của nhà nước trong cái hoạt động áp dụng pháp luật. quyền lực của nhà nước nó được thể hiện không chỉ đối với các cái chủ thể được áp dụng pháp luật mà còn có thể áp dụng đối với các chủ thể có liên quan. À thế thì ở trong cái hoạt động áp dụng pháp luật này nó có thể hiện cái quyền lực của nhà nước ở trong những cái sự biểu hiện như thế nào? Các em thấy ví dụ như
2:22 một người vi phạm pháp luật của nhà nước và nhà nước cần phải áp dụng pháp luật ở trong trường hợp đấy. Thế thì nhà nước sẽ thể hiện cái quyền lực của nhà nước như thế nào? Ví dụ bây giờ một người thực hiện hành vi giết người chẳng hạn. À đây là một cái hành vi mang tính đặc biệt nguy hiểm ở trong cái cuộc sống của chúng ta. Vậy thì nhà nước áp dụng pháp luật trong trường hợp này có nghĩa rằng nhà nước sẽ căn cứ vào các cái quy định của pháp luật để ra một cái văn bản áp dụng pháp luật định ra cho chủ thể những cái trách nhiệm pháp lý nhất định và chủ thể đấy sẽ phải thực hiện. Thế thì cái tính chất quyền lực ở đây có nghĩa rằng nhà nước đã định ra một cái hình phạt cho chủ thể giết người thì chủ
3:08 thể đó phải thực hiện cái hình phạt đó và không được quyền là thỏa thuận hay chúng ta nói là mặc cả đối với lại nhà nước hay là có cái cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nếu như bây giờ ờ trong một cái quan hệ hợp đồng đi thì chúng ta có thể mặc cả với nhau, chúng ta có thể thỏa thuận với nhau về là cái quyền nghĩa vụ của các bên. Nhưng trong cái quan hệ giữa nhà nước và cái người vi phạm pháp luật đó thì à nhà nước là cái người có quyền định ra các cái biện pháp trách nhiệm pháp lý cho chủ thể, định ra các cái hình phạt cho cái chủ thể vi phạm pháp luật hình sự trong trường hợp này. Và chủ thể đó sẽ không được mặc cả, không được thỏa thuận mà phải thực hiện. Tất nhiên họ cũng có một cái quyền đó là gì? Ví dụ nhà nước đưa ra cái phán quyết trong trường hợp này là tòa án chẳng hạn, tòa án đã đưa ra một cái phán
3:54 quyết, một cái bản án và buộc chủ thể đó phải thực hiện một cái hành, một cái ừ hình phạt đó là ví dụ như tù có thời hạn, ví dụ 10 năm tù chẳng hạn thì chủ thể đó phải thực hiện cái biện pháp này, phải thực hiện cái hình phạt này mà không có mặc cả với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ví dụ như là vì là nhà em phải nuôi con nhỏ rồi là nuôi vợ, nuôi mẹ già nên là thôi bớt cho em một tí, bớt cho em một vài năm tù. Thế thì không có cái chuyện mặc cả ở tại cái tòa án như vậy. Nếu như cái người mà phải chịu hình phạt họ thấy rằng là mình bị tòa án đưa ra cái phán quyết đấy là không đúng với lại cái vụ án của mình, không đúng với cái tình huống vi phạm của mình thì
4:39 họ có cái thẩm quyền, họ có cái quyền đó là gì? kháng cáo cái bản án chưa có hiệu lực của nhà nước đó hoặc là các cơ quan nhà nước khác có cái quyền là gì? Kháng nghị chẳng hạn. Thế nhưng mà trong trường hợp này, nếu như nhà nước đưa ra các cái phán quyết và phán quyết đó không có kháng cáo kháng nghị và trong trường hợp này bản án quyết định của tòa án chẳng hạn đã có hiệu lực pháp luật thì là phải thi hành. Đấy, cái tính chất quyền lực nó được thể hiện rất là rõ ở đó và cái chủ thể phải thực hiện cái biện pháp hoặc là cái hình phạt đó mà không thể nào à kháng lại cái quyết định đó từ phía nhà nước. Nên là cái quyết định của nhà nước bao giờ cũng mang tính chất rất là đơn phương một phía. Đấy, và không chỉ là bắt buộc đối với cái chủ thể cụ thể đó mà cái quyết định này còn
5:24 có thể là gì? à tác động với các chủ thể có liên quan nữa. Ví dụ à nhà nước ừ xử phạt một cái nhà xây dựng trái phép. Ví dụ như bây giờ họ chỉ cho phép là xây dựng một tầng lầu thôi, nhưng nhà này lại xây đến hai ba tầng lầu chẳng hạn. Và họ đã đưa ra một cái quyết định là cưỡng chế, tháo dỡ cái nhà xây dựng trái phép đó. Nhưng mà bây giờ ví dụ như tôi là cái nhà hàng xóm của cái nhà mà bị cưỡng chế tháo dỡ. Tôi thấy là bây giờ nếu như nhà nước tháo dỡ cái nhà bên cạnh thì nhà tôi cũng bị ảnh hưởng bởi vì người ta sẽ phải đưa công cụ đến người ta tháo dỡ ra. Vậy thì nhà tôi có thể bị bụi bặm hoặc là nhà tôi có thể bị sụt lún hoặc là bị nứt bị dạn. Thế thì nó sẽ ảnh hưởng đến cái nhà của tôi. Thế thì bây giờ tôi muốn là cản trở không
6:11 cho họ thực hiện cái biện pháp cưỡng chế tháo dỡ nhà đó. Thế thì có được không? À trong trường hợp này không thể được bởi vì cái biện pháp cưỡng chế nhà nước đó được áp đặt cho cái chủ thể này nhưng nó cũng có liên quan tới tôi và tôi không thể nào ngăn cản nhà nước thực hiện cái quyết định đối với cái chủ thể mà đang à đang chịu cái cái biện pháp xử lý đó cả. Mặc dù nó có thể bụi bặm đến nhà tôi, mặc dù có thể nhà tôi bị dạn nứt, nếu như cái mức độ dạn nứt, cái mức độ là bụi bặng nó gây ra rất nhiều các cái phiền toái mà được quy định trong pháp luật thì có thể tôi yêu cầu bồi thường. Thế nhưng mà không được ngăn cản cái cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện cái biện pháp cưỡng chế đối với chủ thể khác. Đó. Thế thì rõ ràng rằng là mệnh lệnh ở nhà nước đặt ra các cái
6:58 trường hợp đã được áp dụng pháp luật rồi thì chúng ta không được à trái lại cái mệnh lệnh của nhà nước. Cái tính chất bắt buộc đó nó không phải là chỉ áp dụng cho một chủ thể mà có thể áp dụng liên quan đến các cái chủ thể khác nữa. Thế thì hoạt động áp dụng pháp luật đương nhiên là một cái hoạt động mang tính tổ chức và thể hiện được rất rõ cái quyền lực của nhà nước ở trong đó. Đấy là đặc điểm đầu tiên của việc áp dụng pháp luật. Đặc điểm thứ hai, áp dụng pháp luật có hình thức thủ tục chặt chẽ. À nghe thấy cái đặc điểm này là các em có thể hình dung ra được rằng các cái giai đoạn của một cái hoạt động áp dụng pháp luật nó diễn ra theo các cái thứ tự, các cái trình tự pháp luật nhất định. Thế thì hình thức thủ tục có nghĩa là các cái
7:45 trình tự, các cái giai đoạn để mà giải quyết một cái vụ việc cụ thể nào đó theo các quy định của pháp luật. Thế thì tại sao hoạt động áp dụng pháp luật lại cần phải có tính hình thức thủ tục chặt chẽ? Ở đây thì chúng ta cần phải hiểu rằng là hình thức của hoạt động áp dụng pháp luật là một cái văn bản áp dụng pháp luật. Thế mà trước hết thì các em hãy cho cô biết xem là à tại sao cái hoạt động áp dụng pháp luật đấy lại cần phải là có cái trình tự thủ tục chặt chẽ. Rồi mời em nữ. Dạ thưa cô, theo em là áp dụng pháp luật hình thức thủ tục chặt chẽ là nhằm để thống nhất và công bằng. À rồi cảm ơn em. Bạn nói về cái hoạt động áp dụng pháp luật nó có tính thủ tục và chặt chẽ để mang lại cái sự công
8:30 bằng, cái sự thống nhất. À thực sự thì đúng là như vậy nhưng mà bạn nói thì nó cũng chưa rõ ràng cho lắm. Ở đây các em thấy rằng cái hoạt động áp dụng pháp luật đấy nó cần phải có trình tự, nó cần phải có thủ tục bởi vì cái tính chất thủ tục của nó là nó có thứ tự và nó có cái tính chất khuôn mẫu. Và khi nó có trình tự thủ tục như vậy thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền dù ở bất kỳ một cái địa phương nào trên cái phạm vi cả nước của chúng ta đều phải thực hiện theo cái trình tự thủ tục đó. Vì vậy nó mới tạo ra được một cái sự thống nhất. Đấy nó mới và từ cái sự thống nhất đấy nó mới tạo ra cái sự công bằng đối với các chủ thể. Ví dụ sau này các em sẽ học về cái hoạt động tố tụng hình sự. Nó trải qua các cái giai đoạn từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án thì nó
9:16 mới tạo ra được một cái khuôn mẫu trong cái hoạt động áp dụng pháp luật. Ở đây là áp dụng pháp luật về hình sự đấy. Chứ còn nếu như là ở vùng này áp dụng các cái giai đoạn như thế, ở vùng kia lại không áp dụng các giai đoạn như vậy thì nó có thể là gây ra cái sự thiếu công bằng. Có thể cái việc áp dụng đấy nó nhiều khiến cho người ta phải chịu một cái hình phạt rất là là cao. Nhưng mà ở một cái vùng khác thì lại hình phạt lại rất là nhẹ nhàng chẳng hạn. Thế thì nó sẽ thiếu đi cái sự công bằng trong việc áp dụng pháp luật. Nên việc áp dụng pháp luật nó phải có tính thủ tục chặt chẽ. Và khi thủ tục chặt chẽ như vậy, nó không chỉ tạo ra sự thống nhất, nó không tạo ra không chỉ tạo ra sự công bằng mà nó còn có thể giúp các cái cơ quan nhà nước có thể phối hợp với nhau trong cái việc là áp dụng pháp luật nữa. Đó, vì vậy nên là hoạt động áp dụng pháp luật
10:02 phải có tính hình thức và thủ tục chặt chẽ. Và hình thức của hoạt động áp dụng pháp luật là thông qua một cái văn bản áp dụng pháp luật. Thế thì văn bản áp dụng pháp luật là gì? Trong những cái phần bài đầu tiên, các em đã được làm quen với một cái loại văn bản đó là văn bản quy phạm pháp luật. Thế thì bây giờ khi chúng ta nói đến văn bản áp dụng pháp luật thì văn bản áp dụng pháp luật là gì? Văn bản áp dụng pháp luật là một cái loại văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền văn hành hoặc là các nhà chức trách có thẩm quyền văn hành ra. Và trên cơ sở là các cái văn bản quy phạm pháp luật áp dụng vào trong từng trường hợp cụ thể. quy định các cái quyền và nghĩa vụ của các chủ thể hoặc là quy định các cái biện pháp trách nhiệm pháp lý cho các cái chủ thể vi phạm pháp luật. Như vậy khi chúng ta nói đến một cái văn bản
10:50 pháp luật thì cái văn bản đó nó cần phải có những cái tính chất rất là khác biệt so với cái văn bản quy phạm pháp luật. À thế một cái đặc điểm rất là nổi bật của văn bản áp dụng pháp luật mà các em thấy đó là văn bản áp dụng pháp luật nó à thực hiện nó áp dụng là dựa trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật. Đó. Thế thì văn bản áp dụng pháp luật nó khác gì so với các văn bản quy phạm pháp luật hả các em? Nó khác gì và nó khác ở những cái điểm nào? À chúng ta thấy rằng áp dụng văn bản áp dụng pháp luật là văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để áp dụng vào những trường hợp cụ thể. Thì cái văn bản quy phạm pháp luật đấy nó khác gì? Mời các em.
11:35 Rồi mời em nữ. Dạ thưa cô. Văn bản nguy phạm pháp luật là những quy tắc xử sự chung và được nhà nước ban hành và bắt buộc mọi người phải tuân theo để đảm bảo trật tự cho xã hội. Ờ thế thì những cái văn bản quy phạm pháp luật đó nó có những cái đặc điểm gì? Thưa cô là những văn bản đó là được ban hành theo một thủ tục nhất định có tính chặt chẽ và mang tính bắt buộc đối với tất cả mọi chủ thể. À thế thì cái gì được chứa đựng trong các văn bản quy phạm pháp luật? Thưa cô là các quy phạm pháp luật mà mọi người phải làm theo. À đúng rồi. Cái sự chứa đựng cái chữa đựng trong các cái văn bản quy phạm pháp luật là các cái quy phạm pháp luật. Thế thì cái chữa đựng trong các cái văn bản áp dụng pháp luật là cái gì? Có phải là
12:21 các quy phạm pháp luật không? Trong đó cũng có các vi phạm mà áp dụng pháp luật trong đó. À rồi cảm ơn em. Cảm ơn em. À bạn vừa ấy nói đến cái văn bản quy phạm pháp luật để mà so sánh nó với văn bản áp dụng pháp luật. Bạn cũng đã nêu được một vài vài những cái đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật và từ đó bạn suy ra cái văn bản áp dụng pháp luật nó khác biệt là ở chỗ nào. Tuy nhiên ở đây ấ thì điều bạn nói ra nó cũng chưa có chính xác. Ở đây khi chúng ta nói đến văn bản áp dụng pháp luật thì cái chứa đựng trong văn bản áp dụng pháp luật không phải là quy phạm pháp luật mà đó là những quy tắc xử sự cụ thể của chủ thể trong những trường hợp nhất định. Bởi vì tất nhiên
13:07 các em có thể rất là hay nhầm lẫn bởi vì cái văn bản áp dụng pháp luật ấy nó dựa trên văn bản quy phạm pháp luật để mà áp dụng. Và nhiều khi cái trong cái văn bản áp dụng pháp luật đấy họ dẫn chứng ra, họ viện dẫn ra họ đưa ra các cái căn cứ đó là ở trong các cái văn bản quy phạm pháp luật khiến cho các em hiểu nhầm rằng là trong văn bản áp dụng pháp luật thì có chứa các quy phạm pháp luật nhưng trên thực tế nó không phải như vậy. Các cái đấy chỉ là căn cứ mà thôi. Còn thực tế ở trong văn bản áp dụng pháp luật nó chỉ chứa đựng các cái quy tắc xử sự cụ thể của chủ thể trong một cái trường hợp nhất định. Và có rất nhiều cái tiêu chí để chú chúng ta có thể so sánh được giữa cái văn bản áp dụng pháp luật và văn bản quy phạm pháp luật. Ờ các em có thể dựa vào cái tiêu chí đó là cái cơ quan văn
13:52 hành chẳng hạn, chủ thể văn hành ấy thì cái chủ thể ban hành ra văn bản quy phạm pháp luật được quy định ở đâu? Được quy định ở trong luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Và chỉ có những chủ thể đó mới được quyền ban hành ra văn bản quy phạm pháp luật mà thôi. Còn chủ thể ban hành ra văn bản áp dụng pháp luật cũng là cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nhưng à các chủ thể đó lại có được quy định ở trong luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật không? Thì lại không. Các em thấy rằng rất nhiều các chủ thể có quyền ban hành ra các văn bản áp dụng pháp luật và nó có rất là nhiều hơn rất nhiều so với các chủ thể ban hành ra văn bản quy phạm pháp luật. Và có thể là chủ thể ban hành ra văn bản quy phạm pháp luật cũng có thể ban hành ra văn bản áp dụng pháp luật. Ví dụ như là gì? Ví dụ như là Thủ tướng Chính phủ hoặc là ví dụ
14:37 như Chính phủ nói chung đi có quyền ban hành ra văn bản quy phạm pháp luật thì chính phủ cũng có quyền ban hành ra văn bản áp dụng pháp luật để mà áp dụng vào trong từng trường học cụ thể. Đấy hoặc là ví dụ như là một cái cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, có thẩm quyền không có thẩm quyền ban hành ra văn bản quy phạm pháp luật nhưng vẫn có thẩm quyền ban hành ra một cái văn bản áp dụng pháp luật chẳng hạn. Ví dụ như là một cái [âm nhạc] người cảnh sát giao thông chẳng hạn ban hành ra một cái quyết định xử phạt. Thế thì cái quyết định xử phạt đó là một cái văn bản áp dụng pháp luật. Nhưng mà cảnh sát giao thông thì trong trường hợp nhất định họ không ban hành ra văn bản ờ áp văn bản quy phạm pháp luật chẳng hạn. Không phải là trường hợp nào họ cũng ban hành ra văn bản quy phạm pháp luật. Nhưng khi đã ban hành ra văn bản áp dụng
15:23 pháp luật thì nó lại áp dụng ở trong từng trường hợp cụ thể. Đó. Thế thì cái chủ thể ban hành là nó đã khác nhau rồi. Cái thứ hai là về các cái quy tắc xử sự chứa đựng trong đó thì cô vừa nói rằng là gì? Trong văn bản quy phạm pháp luật thì chứa đựng các quy phạm pháp luật. Còn trong văn bản áp dụng pháp luật thì chứa đựng những quy tắc xử sự cụ thể. Ví dụ như là gì? Chúng ta nói đến cái luật an toàn giao thông đường bộ. Họ có quy định rằng là gì? hoặc là trong luật xử lý vi phạm ừ vi phạm hành chính chẳng hạn và nó được cụ thể trong các cái văn bản về nghị định xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an toàn giao thông đường bộ. Ví dụ như một cái hành vi là không đội mũ bảo hiểm khi gị khi lưu thông bằng cái phương tiện là xe gắn máy họ có thể bị xử phạt
16:08 ở cái mức là gì? À ví dụ như 200.000đ đến vài triệu đồng chẳng hạn. Nhưng bây giờ một người vi phạm pháp luật cụ thể là không đội mũ bảo hiểm trong cái trường hợp nhất định thì họ chỉ bị xử phạt ví dụ như 200.000đ thôi. Thế thì cái người đó và cái biện pháp xử lý đó nó rất là cụ thể trong cái trường hợp như vậy. Và trong cái quyết định xử phạt nó ghi nhận rất rõ. Đó. Rồi ừ cái văn bản áp dụng pháp luật so với văn bản quy phạm pháp luật thì cái tần suất áp dụng là nó khác nhau. Văn quy phạm pháp luật thì được áp dụng là gì? Nhiều lần cho đến khi nào nó hết hiệu lực, cho đến khi nào nó bị đình chỉ, bị hủy bỏ hoặc là sửa đổi bổ sung một số cái điều nào đó. À thế nhưng mà văn bản áp dụng pháp luật
16:54 thì chỉ được áp dụng bao nhiêu lần thôi các em? Ví dụ quyết định xử phạt một cái người không đội mũi mà tham không đội mũ bảo hiểm ấy khi tham gia giao thông bằng phương tiện xe ngăn máy thì cái quyết định xử phạt đó được áp dụng bao nhiêu lần? Áp dụng với người đó rồi có đem cái quyết định đấy áp dụng cho người khác không? À không. Vì vậy cái quyết định đó nó chỉ được áp dụng cho một người trong một trường hợp thôi. Nên là chúng ta mới thấy rằng là à về cái chủ thể về cái tần suất áp dụng là nó rất là khác nhau. Đấy chỉ là một vài những cái tiêu chí để chúng ta lấy ra so sánh giữa văn bản áp dụng pháp luật và văn bản quy phạm pháp luật thôi. Và trên thực tế các văn bản áp dụng pháp luật này ấ nó có thể có rất là nhiều. Ví dụ như là chúng
17:40 ta vừa nói à các cái quyết định xử phạt vi phạm hành chính chẳng hạn. hoặc là chúng ta có thể nói đến là gì? À bản án của tòa án. Đấy ví dụ như vậy đều là các cái văn bản áp dụng pháp luật. Thế thì áp dụng pháp luật phải thông qua một cái văn bản áp dụng pháp luật ở trên thực tế. Vì sao trong hoạt động áp dụng pháp luật lại cần phải có cái văn bản áp dụng pháp luật? Tại sao nhỉ? Rồi mời em nữ. Dạ thưa cô tại vì một số trường hợp mình xử lý vi phạm thì mình cần những cái vi phạm pháp luật trong cái văn bản quy phạm pháp luật để quy định áp dụng những quy định xử phạt đó đối với hành vi vi phạm của chủ thể.
18:26 À có nghĩa là lấy cái văn bản quy phạm pháp luật để mà đem áp dụng trong một cái trường hợp cụ thể đó. Thế thì ví dụ như bây giờ xử phạt thì người ta phải có cái văn bản gì? Thưa cô phải có văn bản xử lý vi phạm đó là à quyết định à quyết định xử phạt vi phạm hành chính chẳng hạn. Rồi cảm ơn em. Thế thì các em phải thấy rằng khi chúng ta nói đến hoạt động áp dụng pháp luật thì một cái hình thức rất là rõ ràng của hoạt động áp dụng pháp luật là các cái văn bản áp dụng pháp luật. Nếu như không có văn bản áp dụng pháp luật thì không có cái gì để mà ghi nhận các cái tình huống xử lý hoặc là không có cái gì để mà ghi nhận là cái biện pháp trách nhiệm pháp lý nhà nước áp dụng ở đây là
19:11 gì hoặc là các quyền và nghĩa vụ của chủ thể ở trong trường hợp đấy được cụ thể hóa là gì. Đấy, bây giờ ví dụ như là tòa án giải quyết cái mâu thuẫn tranh chấp giữa hai bên trong một cái quan hệ hợp đồng nhưng mà giải quyết xong không ghi nhận trong một cái văn bản nào thì không có cái căn cứ để người ta thi hành và vì vậy phải ban hành ra một cái bản án hoặc là một quyết định để mà giải quyết cái mâu thuẫn đó. Và cái bản án quyết định đấy ghi nhận về cái hướng xử lý, ghi nhận về cái cách giải quyết của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Và nếu như cái văn bản đó, cái ghi nhận kết quả đó mà các bên không đồng tình thì họ có thể là gì? À khởi kiện ở một cái cơ quan khác hoặc là gì? Họ có thể là gì? thực hiện những cái cái biện pháp khác hoặc
19:57 là tự họ có thể tự giải quyết với nhau. Đó hoặc là các em cũng có thể thấy ví dụ như cơ quan nhà nước có thẩm quyền đưa ra một cái quyết định xử phạt chẳng hạn mà bây giờ chúng ta cầm cái quyết định xử phạt đấy chúng ta thấy họ xử phạt không đúng theo cái cái nhận biết của mình thì mình có thể là đưa và gửi đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để khiếu nại cái quyết định hành chính đó chẳng hạn. Chứ còn nếu mà không có cái văn bản đấy thì làm sao mà có thể là khiếu nại được hoặc là khởi kiện được. Đó. Thế thì các cái văn bản áp dụng pháp luật rất là cần thiết trong các cái hoạt động áp dụng pháp luật. Đó nên là các em thấy rằng là đây là một cái đặc điểm rất là quan trọng của hoạt động áp dụng pháp luật. Một đặc điểm tiếp theo, áp dụng pháp luật mang tính cá biệt cụ thể. Áp
20:44 dụng pháp luật mang tính cá biệt cụ thể là ở chỗ nào? À thế thì vừa rồi đã nói với các em về một số những cái trường hợp mà chúng ta cần phải áp dụng pháp luật. Và khi áp dụng pháp luật đấy chúng ta sử dụng đến các cái văn bản áp dụng pháp luật. Và cái văn bản đấy nó chứa những cái quy tắc xử sự cụ thể. Và cái áp dụng pháp luật mang tính cá biệt cụ thể ở đây nó được thể hiện. Thứ nhất là cá biệt cụ thể về chủ thể được áp dụng và thứ hai là cá biệt cụ thể về các cái quy tắc xử sự được đặt ra. Thứ nhất về chủ thể các em thấy rằng nó mang tính cá biệt bởi vì việc áp dụng pháp luật đấy nó cho chúng ta biết được cái chủ thể bị áp dụng là ai, là cơ quan tổ chức nào,
21:31 là chủ thể nào nói chung. Ví dụ như bây giờ chúng ta thấy rằng là trong cái luật hay là cái nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an toàn giao thông đường bộ, người ta đưa ra cái việc là xử phạt vi phạm khi mà đi xe ngược chiều. Và ờ người ta chỉ nói rất chung chung thôi là các hành vi vi phạm là nếu như người nào đó đi ngược chiều thì bị xử phạt. Ví dụ từ mức 200 đến 1 triệu đồng ví dụ như thế. Ví dụ như thế chẳng hạn. Thế nhưng bây giờ chúng ta thấy rằng là trong cái văn bản là cái nghị định xử phạt vi phạm hành chính đó còn nêu chủ thể cụ thể là ai không? À không. Nhưng bây giờ đặt ra một cái ví dụ cụ thể là một người thực hiện một anh a nào đó thực hiện hành vi là à đi ngược
22:19 chiều. Thế thì trong trường hợp anh ta bị các cái cảnh sát giao thông xử phạt cái hành vi đi ngược chiều đó và ban hành ra một cái quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh ví dụ anh Nguyễn Văn A về hành vi đi ngược chiều và hình thức xử lý đó là phạt tiền 300.000đ. Ví dụ như vậy thì các em thấy rất là rõ về cái chủ thể được áp dụng để mà xử lý vi phạm trong trường hợp này là ai? là anh Nguyễn Văn A chứ còn trong văn bản quy phạm pháp luật có nói là anh A anh B chị C nào không? À không. Nhưng trong văn bản áp dụng pháp luật thì chúng ta lại thấy rất rõ về cái chủ thể. Như vậy khi chúng ta nói đến hoạt động áp dụng pháp luật thì đã cụ thể về các chủ thể được áp dụng chưa? Không có một
23:05 cái trường hợp áp dụng pháp luật nào mà cái chủ thể vì áp dụng lại không rõ cả. Chủ thể vì áp dụng là ai hay là được áp dụng là ai thì nó phải rất là rõ ràng. Ví dụ tòa án ban hành một cái bản án à quyết định một cái hình phạt cho một người nào đó về cái hành vi là trộm cắp chẳng hạn. Thế thì cái người nào đó phải rất rõ chứ. Ví dụ anh Nguyễn Văn A thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bị xử phạt xin lỗi là bị phạt chịu cái hình phạt là một năm tù chẳng hạn. Như vậy thế thì cái chủ thể rất là rõ ràng ở đây phải là phải là anh a chứ còn nếu như các em dở bộ luật hình sự ra thì các em chỉ thấy rằng là người nào thực hiện hành vi trộm
23:52 cắp tài sản thì bị chịu các hình phạt. Ví dụ như là từ bao nhiêu à năm tù đến bao nhiêu năm tù chẳng hạn. Có nghĩa là nó không có cụ thể rõ ràng. Còn ở đây chủ thể có rõ không? À cá nhân nào, tổ chức nào phải được rõ ràng. Và quy tắc xử sự ở đây rất là rõ ràng luôn. Ví dụ quy tắc xử dự là anh a trong trường hợp này phải chịu cái hình phạt ở một năm tù. Nhưng mà trong cái quy phạm pháp luật thì các em lại thấy rằng là người ta chỉ nói rất chung chung rằng là từ bao nhiêu năm tù đến bao nhiêu năm tù chứ. Thì thế nó mới gọi là quy phạm. Còn đây trong cái trường hợp này thì cái quy tắc xử sự nó lại rất rõ ràng là bao nhiêu năm. Hoặc là ví dụ như khi nhà nước giải quyết cái mâu thuẫn giữa các bên à trong cái việc là tranh chấp tài
24:38 sản thừa kế thì khi mà nhà nước giải quyết, nhà nước sẽ ban hành một cái quyết định hoặc là một cái bản án để ghi rõ cái cách thức giải quyết của nhà nước hay là cái quy tắc xử sự mà nhà nước đặt ra trong cái trường hợp này để giải quyết cho cái tình huống đấy rất là rõ ràng. Ví dụ như là à nhà nước hay là tòa án giải quyết là trao cho ừ cái ví dụ như là cái tài sản thừa kế thì anh A sẽ được hưởng là một căn nhà, chị B sẽ được hưởng là một mảnh vườn, anh C sẽ được hưởng ví dụ như là 1 tỷ đồng. Đấy. Thế thì các cái cách thức giải quyết nó rất là rõ ràng trong một cái bản án của tòa án hay chúng ta nói chung đó là các cái văn bản áp dụng pháp luật chứ chứ chứ
25:24 còn trong các cái văn bản quy phạm pháp luật thì nó chỉ nêu một cách là khái quát các cái quy phạm mà thôi. Như vậy hoạt động áp dụng pháp luật nó vừa mang tính cá biệt, nó vừa mang tính là cụ thể về các chủ thể và về các cái quy tắc xử sự được chứa đựng ở trong các văn bản áp dụng pháp luật. Đấy là đặc điểm thứ ba. Đặc điểm cuối cùng à đó là việc áp dụng pháp luật là một cái hoạt động mang tính sáng tạo. Thế nào chúng ta gọi là sáng tạo nhỉ? Như thế nào chúng ta gọi là sáng tạo? À chúng ta gọi là sáng tạo chỉ khi là nó có cái tính mới. Ừ nó tạo ra những cái mới có tính tích cực thì chúng ta gọi là là sáng tạo. Chứ còn những cái gì đã cũ rồi thì không ai gọi là sáng tạo cả. Vậy
26:11 thì sự sáng tạo trong hoạt động áp dụng pháp luật là nó sẽ tạo ra những cái mới có tính tích cực. Nhưng sáng tạo ở đây không có nghĩa là vượt quá cái khuôn khổ pháp luật mà nó được giới hạn trong khuôn khổ pháp luật bằng những cái quy định của pháp luật. Thế thì cái tính sáng tạo này nó được thể hiện như thế nào? Các em thấy là trong hoạt động áp dụng pháp luật thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải căn cứ vào các cái quy phạm pháp luật chứa đựng trong các văn bản quy phạm để mà điều chỉnh các cái quan hệ trong cuộc sống để mà áp dụng vào trong từng trường hợp cụ thể. Nhưng mà các em cũng thấy rằng là quy phạm pháp luật thì nó có tính khái quát hóa rất là cao. Nhưng trong thực tế có rất là nhiều các tình huống xảy ra à không có một cái sự giống nhau hoàn
26:58 toàn. các cái tình huống đấy nó muôn hình vạn trạng và vì vậy để giải quyết cho một trường hợp cụ thể mà lại chỉ áp dụng những cái quy tắc là chung nhất thì chúng ta sẽ phải làm sao để giải quyết cho nó vừa đúng quy định của pháp luật nhưng mà à nó lại phải vừa phù hợp với cái tình huống xảy ra ở trên thực tế. Ví dụ như chúng ta vừa nói đến một người thực hiện hành vi giết người chẳng hạn thì các em thấy trên thực tế có rất là nhiều những cái hành vi mà giết người xảy ra. Nhưng mà các em thấy là khi tòa án đưa ra các phán quyết thì có phải là ai thực hiện hành vi giết người cũng phải chịu một cái hình phạt giống nhau không? Có người thực hiện hành vi giết người thì phải chịu hình phạt tử hình. Có người thực hiện hành vi giết người thì chỉ vì vài năm tù thôi. Còn có người thực hiện hành vi giết người nhưng mà không phải chịu hình phạt. À thế thì nó
27:43 còn phải tùy thuộc vào gì? Vào từng cái tình huống cụ thể, vào từng cái nhân thân của cái người mà ờ thực hiện chẳng hạn. Đấy. Thế thì cái hoạt động áp dụng nó mang tính sáng tạo bởi vì các cái nhà áp dụng pháp luật hay là các cái cơ quan tổ chức áp dụng pháp luật đó họ phải áp dụng vào trong từng trường hợp cụ thể và dựa trên cái kinh nghiệm của họ họ áp dụng sao cho nó phù hợp với à cái thực tiễn đấy. Nó phù hợp với các cái quy định của pháp luật nhưng mà nó phải vừa phù hợp với các cái tình huống xảy ra và nó phải đúng vừa hợp tình vừa hợp lý thì nó mới được coi là một cái sự sáng tạo. Sáng tạo ở đây là gì? À đã tạo ra một cái mới. Ví dụ như các cái quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có bao giờ là người ta sử dụng để mà áp
28:30 dụng cho chủ thể khác không? À không. Thế nhưng mà à các em lại thấy rằng là nó có sáng tạo hơn bởi vì nó đã được sự có kinh nghiệm của các cái cơ quan nhà nước có thẩm quyền đưa các cái văn bản quy phạm pháp luật vào trong thực tế và đem lại cho nó một cái cái sức sống ở trên thực tế khi áp dụng giải quyết từng trường hợp. Cụ thể đó. Và ngoài ra thì cái hoạt động áp dụng pháp luật này nó cần thể hiện cái tính sáng tạo trong một cái hoạt động mà à các em có thể thấy đó là áp dụng tương tự pháp luật. Thế thì hoạt động áp dụng tương tự pháp luật như thế nào để chúng ta thấy được cái tính sáng tạo của nó thì chúng ta sẽ tìm hiểu ở cái phần cuối của cái bài học này. Như
29:15 vậy nói tóm lại trong phần này chúng ta đã đi tìm hiểu về các cái đặc điểm của hoạt động áp dụng pháp luật. Và bốn cái đặc điểm này các em lấy đó để mà nhận diện về cái hoạt động áp dụng pháp luật cũng như phân biệt nó với các hoạt động khác. Cảm ơn các em.