Lần Đầu Tiết Lộ: Cách Liên Xô Chuyển 20.000 Bộ Đội VN Từ Campuchia Về Bắc Để Chiến Đấu Với Giặc Tàu!

Tóm tắt ngắn gọn

Video này khám phá nghịch lý quân sự năm 1979 khi Trung Quốc xâm lược Việt Nam nhưng lại đột ngột rút quân trước ngưỡng cửa Hà Nội. Video nêu bật sức mạnh tinh thần và trí tuệ của Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền, đồng thời phân tích các yếu tố chiến lược khiến quân đội Trung Quốc phải dừng bước.

  • Phân tích bối cảnh lịch sử và quân sự của cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 giữa Việt Nam và Trung Quốc.
  • Giải thích lý do quân Trung Quốc không thể tiến vào Hà Nội dù chỉ cách 135km.
  • Tinh thần bất khuất, trí tuệ quân sự và sự chuẩn bị kỹ lưỡng của Việt Nam.

Mở đầu

Video mở đầu bằng việc giới thiệu về cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979, một sự kiện lịch sử đầy nghịch lý khi quân đội Trung Quốc với lực lượng hùng hậu đã dừng bước trước ngưỡng cửa Hà Nội. Mặc dù khoảng cách từ biên giới Lạng Sơn đến Hà Nội chỉ là 135km, đủ cho một cuộc tiến công nhanh chóng, nhưng thực tế lịch sử lại diễn ra hoàn toàn khác. Sự kiện này không chỉ là một thất bại quân sự mà còn là minh chứng cho sức mạnh tổng hợp của dân tộc Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền.

Lạng Sơn - Cánh cửa thép

Chương này tập trung vào tầm quan trọng chiến lược của Lạng Sơn, được coi là yết hầu và tử huyệt của đồng bằng Bắc Bộ. Quân đội Trung Quốc đã dồn một lực lượng lớn vào Lạng Sơn với mục tiêu chiếm đóng trong vòng 48 giờ, sử dụng chiến thuật "biển người" và "tiêu thổ". Tuy nhiên, quân và dân Lạng Sơn đã kiên cường chống trả, biến mỗi hốc đá, gốc cây thành cứ điểm phòng thủ, làm chậm bước tiến của địch và gây ra những tổn thất nặng nề. Chiến thuật đánh du kích và tinh thần chiến đấu quả cảm của quân dân Lạng Sơn đã phá vỡ kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của đối phương.

Hà Nội - Khí thế toàn dân

Chương này mô tả không khí sục sôi ở Hà Nội khi lệnh tổng động viên được ban hành. Người dân Hà Nội, từ sinh viên đến công nhân và cựu chiến binh, đã đồng loạt đứng lên chuẩn bị cho cuộc chiến bảo vệ thủ đô. Các công viên, bờ hồ trở thành nơi tập luyện quân sự, hầm hào được đào xới lại, và hàng ngàn người viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Khí thế "toàn dân là lính" đã biến Hà Nội thành một pháo đài bất khả xâm phạm, khiến Đặng Tiểu Bình và các tướng lĩnh Trung Quốc phải e dè.

Thế trận Việt Nam

Chương này tiết lộ thế trận quân sự mà Việt Nam đã chuẩn bị để đối phó với cuộc xâm lược. Quân đoàn 1, lực lượng chủ lực cơ động, được giữ bí mật ở khu vực Bắc Giang - Bắc Ninh, sẵn sàng giáng một đòn quyết định vào quân địch khi chúng vượt qua Lạng Sơn. Đồng thời, quân đoàn 2 từ Campuchia được điều động thần tốc về bảo vệ thủ đô, tạo thành thế gọng kìm vững chắc. Sự hỗ trợ của Liên Xô thông qua cầu hàng không và sức mạnh của tên lửa đạn đạo cũng là những yếu tố khiến đối phương phải cân nhắc.

Kết cục chiến tranh

Chương này kể về quyết định rút quân đột ngột của Trung Quốc sau gần một tháng tham chiến. Mặc dù tuyên bố đã hoàn thành mục tiêu, nhưng thực chất đây là một cuộc tháo chạy có trật tự để tránh rơi vào cái bẫy khổng lồ ở đồng bằng sông Hồng. Trên đường rút lui, quân đội Trung Quốc đã thực hiện chính sách "tiêu thổ", phá hoại và cướp bóc, gây ra những hậu quả nặng nề cho các tỉnh biên giới. Tuy nhiên, Việt Nam đã không truy kích mà mở đường cho địch rút, thể hiện tinh thần nhân văn và yêu chuộng hòa bình.

Bài học lịch sử

Chương cuối cùng tổng kết về cuộc chiến tranh biên giới và những bài học lịch sử mà nó để lại. Đó là bài học về sự cảnh giác, lòng tin đúng chỗ và sức mạnh tự cường. Hà Nội được bảo vệ an toàn nhờ vào thế trận tổng hợp gồm sức mạnh quân sự, áp lực địa chính trị và tinh thần dân tộc. Dù đã khép lại quá khứ, nhưng chúng ta không được phép lãng quên những hy sinh của cha anh để bảo vệ chủ quyền và hòa bình cho đất nước.

Summarize any YouTube video in seconds

Get summaries like this one for any video, in your language, with the free Summ app.

Download on the Apple Store
Get it on Google Play

Transcript

YouTube Transcript Generator

0:00 Kính thưa quý vị thính giả thân mến, chào mừng quý vị đã quay trở lại với không gian của những câu chuyện lịch sử chuyên sâu trên người kẻ Việt sử. Lịch sử nhân loại đã từng chứng kiến biết bao cuộc chiến tranh xâm lược, thông thường mục tiêu tối thượng của mọi đạo quân viễn trinh khi tràn sang một quốc gia khác đều giống nhau, đó là đánh chiếm thủ đô bắt giữ bộ máy lãnh đạo đầu não để buộc đối phương phải đầu hàng vô điều kiện. Thế nhưng vào năm 1979 tại biên giới phía Bắc Việt Nam đã xảy ra một sự kiện hết sức kỳ lạ, một nghịch lý quân sự mà cho đến tận ngày nay vẫn khiến nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới còn tranh luận sôi nổi. Đó là một cuộc chiến có quy mô khổng lồ với lực lượng tới khoảng 60 vạn quân nhưng lại kết thúc

0:45 một cách đột ngột và đầy bí ẩn ngay trước ngưỡng cửa quyết định khi Hà Nội dường như chỉ còn cách vỏn vẹn 135 km. Điều đáng chú ý là dù khoảng cách địa lý ngắn ngủi ấy chỉ đủ cho một đạo quân cơ giới hóa tiến công nhanh chóng, nhưng thực tế lịch sử lại cho thấy một bức tranh hoàn toàn khác biệt. Đây không chỉ là một thất bại quân sự thông thường mà còn là minh chứng rõ nét cho sức mạnh tổng hợp của một dân tộc đã quen với việc bảo vệ chủ quyền bằng cả trí tuệ bản lĩnh và tinh thần đoàn kết. Chính nghịch lý ấy đã khiến cả thế giới phải ngạc nhiên và vẫn còn là đề tài nghiên cứu sâu sắc đến hôm nay. Hãy cùng quay ngược thời gian trở về rạng sáng ngày 17 tháng năm 1979. Thưa quý vị, khi sương mù vẫn còn răng

1:33 kín những cánh rừng hồi rừng quế ở Lạng Sơn và Cao Bằng, mặt đất bỗng nhiên rung chuyển dữ dội. Hàng vạn quả pháo hạng nặng từ bên kia biên giới đồng loạt khai hỏa xé toạc bầu trời yên bình của giải đất hình chữ S. Ngay sau loạt pháo kích kinh hoàng ấy là một biển người thực sự tràn sang, Trung Quốc đã huy động một lực lượng quân sự khổng lồ lên tới khoảng 60 vạn quân, bao gồm cả dân binh hỗ trợ. Con số này còn lớn hơn cả quân số mà Mỹ từng huy động vào lúc cao điểm nhất của chiến tranh Việt Nam. Với khí thế hung hãn, lấy thịt đè người hàng trăm xe tăng gầm rú tiến công các tướng lĩnh Bắc Kinh lúc bấy giờ đã ngạo nghễ tuyên bố một câu nói khiến cả thế giới phải dùng mình lo ngại cho vận mệnh của Việt Nam. sáng ăn cơm ở Lạng Sơn tối sẽ

2:19 ngủ ở Hà Nội. Họ tin chắc rằng với sức mạnh áp đảo như thác lũ, chỉ trong vòng vài ngày, mọi sự kháng cự sẽ bị nghiền nát và gót dày của quân xâm lược sẽ giẫm lên đường phố thủ đô Hà Nội. Cả thế giới lúc ấy nín thở theo dõi, các hãng tin phương Tây liên tục cập nhật từng giờ diễn biến. Ngay cả một số nhà ngoại giao tại Hà Nội cũng bắt đầu lo lắng thu xếp hành lý bởi khoảng cách từ biên giới Lạng Sơn về Hà Nội chỉ vọn vẹn 135 km, một khoảng cách quá ngắn đối với một đạo quân cơ giới hóa hiện đại. Thế nhưng chính trong khoảnh khắc tưởng chừng như mọi thứ đã nằm trong tầm tay ấy, lịch sử lại chuẩn bị viết nên một chương khác hoàn toàn trái ngược với những tính toán ban đầu, sức mạnh bề ngoài hung hãn và

3:06 quy mô lớn lao đôi khi lại che giấu những điểm yếu sâu bên trong. Trong khi ý chí bảo vệ chủ quyền của một dân tộc anh hùng lại có thể tạo nên những kỳ tích vượt qua mọi dự đoán. Và thực tế sau này đã chứng minh rằng đằng sau vẻ ngoài áp đảo ấy là một cuộc đối đầu giữa sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần, giữa tham vọng xâm lược và khát vọng giữ vững từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Nhưng thưa quý vị, kịch bản tồi tệ ấy đã không bao giờ xảy ra. Đạo quân khổng lồ phương Bắc sau khi hung hổ dáng một đòn trời dáng vào biên cương bỗng nhiên khựng lại. Họ xa lẩy họ hoang mang và rồi khi cánh cửa dẫn xuống đồng bằng dường như đã hé mở họ lại đột ngột tuyên bố rút quân và tháo chạy về nước. Tại sao lại như vậy? Tại sao một lực lượng

3:53 tới khoảng 60 vạn quân mà không dám bước tiếp 135 km cuối cùng ấy? Có phải vì lòng nhân đạo như họ từng Diêu Giao trên đài phát thanh Bắc Kinh? Chắc chắn là không. Kẻ mang quân đi xâm lược cướp đất không bao giờ biết đến hai chữ nhân đạo. Hay phải chăng vì một nỗi sợ hãi vô hình nào đó? Phải chăng trên con đường độc đạo dẫn về Hà Nội đã có một cái bẫy khổng lồ, một tử huyệt đáng sợ mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các nhà lãnh đạo Việt Nam đã răng sẵn chỉ chờ quân địch bước vào là đóng cửa đánh giặc. Và liệu có hay không sự can thiệp ngầm của một siêu cường khác khiến Đặng Tiểu Bình phải toát mồ hôi lạnh mà ra lệnh thu quân? Những câu hỏi này không chỉ là thắc mắc của riêng chúng ta hôm nay mà đã trở thành đề tài tranh luận của nhiều

4:39 nhà nghiên cứu quân sự trên thế giới trong suốt nhiều thập kỷ qua. Nó cho thấy rằng sức mạnh trên giấy tờ và số lượng quân đông đảo đôi khi không phải là yếu tố quyết định trong nghệ thuật chiến tranh, trí tuệ bản lĩnh và sự chuẩn bị kỹ lưỡng của bên phòng thủ thường tạo nên những bước ngoặt lịch sử vượt ngoài mọi dự tính của kẻ tấn công. Đây chính là minh chứng sống động cho tinh thần bất khuất. và khả năng bảo vệ chủ quyền của dân tộc Việt Nam. Xin quý vị hãy dành một giây nhấn nút đăng ký kênh và chia sẻ câu chuyện này. Bởi vì lịch sử không chỉ là quá khứ, lịch sử là bài học xương máu để chúng ta biết cách giữ nước cho muôn đời sau. Và bây giờ hãy cùng tôi trở lại với điểm nóng đầu tiên, nơi được coi là cánh cửa thép vững trãi bảo vệ Hà Nội. Đó là Lạng Sơn, nơi

5:27 mộng tưởng, đánh nhanh, thắng nhanh của quân xâm lược bắt đầu bị bẻ gãy bởi những con người Việt Nam quả cảm. Lạng Sơn không chỉ là một tỉnh biên giới mà còn là con dao găm sắc bén cắm vào sườn kẻ thù, là nơi chứng kiến sự bất lực đầu tiên của chiến thuật biển người từng được coi là bất khả chiến bại. Kính thưa quý vị, để hiểu được tại sao cỗ xe tăng khổng lồ của đối phương lại khửng lại một cách tức tưởi như vậy, chúng ta buộc phải nhìn vào bản đồ quân sự với con mắt của một nhà chiến lược. Suốt hàng ngàn năm lịch sử giữ nước Lạng Sơn chưa bao giờ chỉ đơn thuần là một tỉnh biên giới với địa thế núi non trùng điệp. Những dãy núi đá vôi rừng đứng sừng sững như những bức tường thành thiên nhiên vững trãi, nhưng lại có một độc đạo quốc lộ 1A chạy xuyên qua thẳng tắp như một mũi

6:14 tên lao thẳng về phương Nam. Chính vì vậy, Lạng Sơn từ lâu đã được xem là yết hầu là tử huyệt của toàn bộ đồng bằng Bắc Bộ. Ai kiểm soát được Lạng Sơn thì coi như nắm được chìa khóa dẫn vào trái tim của miền Bắc Việt Nam. Các tướng lĩnh Bắc Kinh năm 1979 khi vạch ra kế hoạch xâm lược cũng nhận ra rõ điều này. Họ từng ví von một cách đầy hình tượng rằng nếu biên giới phía Bắc là một cơ thể sống thì Lạng Sơn chính là cái cổ họng. Chỉ cần bóp nghẹt được cái cổ họng ấy, Hà Nội sẽ ngạt thở. Một khi chiếm được Lạng Sơn khoảng cách 135 km còn lại về thủ đô, chỉ còn là một cuộc hành quân dạo mát trên đường nhựa phẳng lì. Lúc đó xe tăng có thể tự do lăn bánh pháo binh có thể thoải mái kéo đi và không còn bất

7:00 kỳ chướng ngại vật tự nhiên nào đủ lớn để che chắn cho Hà Nội nữa. Chính vì tầm quan trọng sinh tử ấy, Bắc Kinh đã quyết định chơi một ván bài tất tay. Họ dồn vào hướng Lạng Sơn một lực lượng hùng hậu chưa từng thấy. Kể từ sau chiến tranh Triều Tiên, quân đoàn 43, quân đoàn 5, bốn quân đoàn 55, những đơn vị thiện chiến nhất được trang bị hỏa lực mạnh nhất của đại quân khu Quảng Châu, nhận lệnh phải nghiền nát thị xã Lạng Sơn cùng các cao điểm xung quanh trong thời gian tối đa chỉ 48 giờ. Chiến thuật mà họ sử dụng rất đơn giản, tàn bạo và mang đậm chất nhà giàu. Đó là sự kết hợp giữa biển người và tiêu thổ. Hãy hình dung sự khủng khiếp của chiến thuật này. Ban đầu họ dùng pháo binh san phẳng mọi công sự, mọi ngôi nhà cày xới, từng mét

7:47 đất biến các thị trấn Đồng Đăng và thâm lúng thành bình địa. Họ muốn xóa sổ sự sống trước khi bộ binh tràn lên. Sau đó họ xô quân tấn công như những con sóng thần không phải theo hàng ngang mà là lớp lớp người liên tiếp. Lớp trước ngã xuống vì đạn của bộ đội ta, lớp sau lập tức tràn lên, giẫm lên xác đồng đội mà tiến về phía trước. Tiếng kèn xung trận vang vọng, tiếng la hét dội khắp núi rừng. Họ tin rằng với số lượng áp đảo gấp 10 gấp 20 lần quân phòng thủ, dù bộ đội Việt Nam có mình đồng ra sắt và súng đạn có nhiều đến đâu cũng sẽ phải nóng nòng kiệt sức và cuối cùng bị đè bẹp. Họ muốn dùng thịt đè người để bẻ gãy trí kháng cự ngay từ trận đầu, tạo ra một cú sốc tâm lý đủ mạnh khiến Hà Nội run sợ

8:33 và phải ngồi vào bản đảm phán. Nhưng thưa quý vị, các tướng lính Trung Quốc ngồi trong phòng máy lành ở Bắc Kinh khi vạch kế hoạch trên giấy đã phạm phải một sai lầm chết người. Họ tính được cơ số đạn, họ đếm được số lượng quân lính nhưng họ lại không tính được độ lỉ và bản lĩnh phi thường của con người Việt Nam ngay tại cửa ngõ tổ quốc tại Lạng Sơn. Lúc bấy giờ thực tế diễn ra hoàn toàn khác với những gì họ dự tính. Lực lượng trấn giữ biên cương của chúng ta lúc này chủ yếu là bộ đội địa phương dân quân tự vệ với nòng cốt là sư đoàn ba sao vàng anh hùng. Chúng ta chưa kịp điều động các quân đoàn chủ lực tinh nhuệ nhất như quân đoàn một và quân đoàn hai những quả đấm thép thực sự lên tham chiến. So về quân số chúng ta ít hơn họ

9:20 rất nhiều một chọi 10 là chuyện thường thấy. Về hòa lượn chúng ta cũng thua kém. Thế nhưng chúng ta lại sở hữu một thứ vũ khí mà đối phương không có, đó chính là địa thế thiên nhiên và lòng dân kiên cường. Những người lính sư đoàn ba sao vàng cùng bà con dân tộc tày nùng nơi đây đã biến từng hốc đá tai mèo, từng gốc cây cổ thụ, từng căn nhà đổ nát ở pháo đài đồng đăng thành những cứ điểm bất khả xâm phạm. Họ không chọn cách đánh trực diện theo kiểu dàn hàng ngang để thi đấu súng với địch vì đó là cách đánh bất lợi. Thay vào đó, họ vận dụng linh hoạt cách đánh truyền thống của người Việt, đánh du kích, đánh tạt sườn, đánh úp hồi, đánh nổ hoa trong lòng địch. Khi những chiếc xe tăng Trung Quốc

10:05 gầm rú tiến vào với thái độ ngạo nghễ tin rằng mình là vua chiến trường, chúng bất ngờ bị bắn cháy bởi những tổ săn tăng gan dạ nằm phục sẵn bên vệ đường hoặc từ những hầm bí mật mà xích xe tăng vừa lăn. Qua khi biển người tràn lên các điểm cao, họ bị chặn đứng, bị xé lẻ bởi những lưới lửa đan chéo từ hệ thống hầm hào liên hoàn. Quân Trung Quốc cứ tiến lên là bị gạt ngã như ngả giả. Cuộc chiến tại Lạng Sơn vì thế không diễn ra như một cuộc hành quân giảo mát mà Bắc Kinh từng dự tính. Nó nhanh chóng biến thành một cái cối say thịt khổng lồ quay chậm chạp nhức nhối và đẫm máu. Một ngày trôi qua, hai ngày trôi qua cái mốc 48 giờ để chiếm Lạng Sơn đã qua từ lâu. Một tuần trôi qua thì xá Lạng Sơn và các cao

10:51 điểm xung quanh vẫn hiên ngang đứng đó. Dù tả tơi trong khói lửa đầy thương tích nhưng chưa hề chịu gục ngã. Cái tuyên bố ngạo mạn sáng ăn cơm biên giới, tối ngủ ở Hà Nội của tướng Hứa Thế Hữu, giờ đây trở thành một trò cười chua chát và cay đắng. Quân Trung Quốc bị xa lầy vào một cuộc chiến tranh tiêu hao khủng khiếp. Mỗi mét đất họ chiếm được đều phải đổi bằng hàng trăm sinh mạng binh lính. Các bệnh viện dã chiến ở Quảng Tây rơi vào tình trạng quá tải thương binh. Sự chậm trễ này không chỉ gây tổn thất lớn về quân số mà còn nguy hiểm hơn nhiều. Nó đang phá hoại toàn bộ kế hoạch chiến lược đã được vạch ra kỹ lưỡng. Bắc Kinh bắt đầu sốt ruột, thậm chí hoảng loạn ngầm. Họ hiểu rõ rằng trong chiến tranh thời gian chính là vàng và lúc này thời

11:38 gian đang đứng về phía Việt Nam. Mỗi giờ quân Trung Quốc bị cầm chân tại Lạng Sơn là một giờ quý giá để Hà Nội củng cố phòng tuyến để các quân đoàn chủ lực thiện chiến nhất từ chiến trường Campuchia kịp quay về bảo vệ Tổ quốc. Và đáng sợ hơn cả là để gấu Nga ở phía Bắc có thêm thời gian chuẩn bị sẵn sàng cho những động thái can. Thiệp theo tinh thần hiệp ước phòng thủ đã ký kết, cuối cùng sau hơn hai tuần dùng biển người để đổi lấy từng tấc đất quân Trung Quốc cũng tiến được vào thị xã Lạng Sơn. Nhưng chiến thắng ấy mang vị đáng chát. Họ chỉ chiếm được một thành phố vườn không nhà trống. Dân chúng đã sơ tán hết nhà cửa chỉ còn là những đống gạch vụn không có bất kỳ sự đầu hàng nào. Bộ đội Việt Nam chỉ rút lui chiến thuật ra các

12:24 điểm cao phía sau để tiếp tục cấu xé quấy rối không ngừng. Và khi đứng trên đống đổ nát của cầu kỳ cùng nhìn về phía nam về hướng Hà Nội, các tướng lĩnh Trung Quốc không thấy con đường thanh thang rộng mở như họ từng tưởng tượng trong các buổi họp ở Bắc Kinh. Thay vào đó, họ cảm nhận rõ một luồng không khí lạnh buốt chạy dọc sống lưng. Tin tức tình báo dồn dập báo về cho biết tại Hà Nội cách đó hơn trăm km không hề có sự hoảng loạn. Ngược lại, một làn sóng quyết tử đang dâng cao ngút ngàn biến thủ đô ngàn năm văn hiến thành một khối thép vững trãi. Một cái bẫy chết người đang răng rộng miệng chờ đợi. Quý vị thân mến, chính bản lĩnh kiên cường và cách đánh thông minh của người lính Việt Nam tại Lạng Sơn đã khiến kế hoạch đánh

13:09 nhanh, thắng nhanh của đối phương tan vỡ ngay từ những ngày đầu. Đó không chỉ là chiến thắng của sức mạnh quân sự mà còn là chiến thắng của ý chí bảo vệ chủ quyền của lòng dân và trí tuệ quân sự được hun đúc qua bao thế hệ. Từ đây, câu chuyện sẽ tiếp tục mở ra những lớp lang sâu sắc hơn về cách Hà Nội đã chuẩn bị và những quả đắm thép đang chờ đợi phía trước. Trong khi Lạng Sơn vẫn đang rực lửa và trở thành nơi thử thách ý chí của cả hai bên thì tại Hà Nội, trái tim của Tổ quốc, một không khí đặc biệt đang bao trùm. Đó là những ngày cuối tháng, hai đầu tháng năm 1979 khi thời gian dường như ngưng đọng và không gian trở nên đặc quánh. Không phải vì nỗi sợ hãi lan rộng mà vì sự dồn nén

13:57 của một cơn giận dữ ví đại sắp bùng nổ. Người Hà Nội lúc ấy thể hiện một sự bình tĩnh đến lạ lùng, một sự điềm tĩnh lạnh lùng nhưng đầy sức mạnh. Đó chính là bản lĩnh của một dân tộc chiến binh đã quá quen với việc cầm súng, bảo vệ nhà cửa coi việc giữ nước là một phần tất yếu dù nghiệt ngã của cuộc sống. Ngày 5 tháng năm 1979, một sự kiện lịch sử quan trọng đã diễn ra. Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng đã ký xác lệnh tổng động viên trên toàn quốc. Lời kêu gọi ấy vang lên qua hệ thống loa phát thanh phường xá len lỏi vào từng con ngõ phố cổ vang vọng trong các nhà máy và giảng đường. Nó không phải là một văn bản hành chính khô khan mà giống như tiếng chống đồng năm xưa, giống như bài hịch tướng sĩ đánh thức

14:43 hào khí Thăng Long đang ngủ yên trong lòng mỗi người dân đất Việt. Ngay lập tức Hà Nội chuyển mình mạnh mẽ. Thành phố Ngàn năm Văn Hiến vốn nổi tiếng với vẻ đẹp lãng mạn hào hoa bỗng chốc rũ bỏ lớp áo thư sinh để khoác lên mình bộ chiến bào gai góc tại các công viên thống nhất Bách Thảo hay ngay bên bờ hồ Gươm xanh biếc. Thay vì hình ảnh người già tập dưỡng sinh hay thanh niên hò hẹn, người ta thấy những khẩu súng phòng không mọc lên tua tủa nòng súng vươn cao lên bầu trời xám xịt. Những con hào giao thông và hầm chú ẩn cá nhân được đào sới khẩn trương. Dấu tích của thời trống Mỹ chưa kịp lấp đầy nay lại được người dân hối hả khơi lên mùi đất mới quyện với mùi hăng hăng của sự chuẩn bị chiến tranh. Hình ảnh gây xúc động mạnh mẽ và ám ảnh nhất lúc bấy giờ chính là những

15:30 dòng người xếp hàng dài rằng rặc trước các điểm tuyển quân. Đó là những chàng trai, cô gái sinh viên từ các trường đại học tổng hợp Bách Khoa Sư phạm. Những người có đôi bàn tay trắng trẻo chỉ quen cầm bút. Nhiều người đã cắn ngón tay lấy máu để viết đơn xin nhập ngũ. Những dòng huyết thư ngắn gọn nhưng đanh thép cho tôi ra biên giới quyết tử cho tổ quốc quyết sinh được viết bằng màu đỏ rực của tuổi Thanh Xuân. Họ hiểu rằng nếu tổ quốc không còn thì những trang sách kia cũng trở nên vô nghĩa. Đó còn là những người công nhân nhà máy cao su sao vàng vừa tan ca đã khoác súng lên vai tập luyện đội hình. Họ vừa sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu ngay tại phân xưởng nếu giặc tràn về. Và đặc biệt hơn cả là những cựu chiến binh, những người đàn

16:16 ông đầu đã hai thứ tóc vừa mới trở về từ chiến trường miền Nam với vết thương chưa lành miệng, chiếc ba lô con cóc còn chưa kịp giặt sạch bụi đường. Nghe tin giặc đến họ lại lặng lẽ mở tủ lấy bộ quân phục cũ lao chùi khẩu súng hôn tạm biệt vợ con để lên đường. Họ bảo nhau một câu nhẹ bẫng nhưng nặng tựa ngàn cân đánh Mỹ suốt mấy chục năm mình còn chẳng sợ. Xá gì mấy thằng giặc phương Bắc này dám tiến đến Hà Nội mình cho chúng biết thế nào là lễ độ của người Việt Nam. Cả thủ đô lúc ấy sục sôi khí thế toàn dân là lính. Mỗi ngôi nhà ở phố Khâm Thiên hàng ngang hàng đảo được bí mật biến thành một ổ kháng cự. Mỗi gốc cây, mỗi cột đèn đều có thể trở thành nơi ẩn nấp của một tay súng bắn tỉa. Qua mạng lưới tình báo, các tướng lĩnh Trung Quốc chắc

17:03 chắn đã nắm được bầu không khí này. Và ở Bắc Kinh, Đặng Tiểu Bình hẳn phải dùng mình ớn lạnh. Họ là những người am hiểu binh pháp hiểu rằng đánh bại một đội quân thì có thể còn dễ, nhưng đánh bại một thành phố đã hóa thành pháo đài lòng dân thì khó hơn lên trời. Nếu vượt qua Lạng Sơn để tiến về Hà Nội, 60 vạn quân sẽ không phải đi giễu hành chiến thắng mà sẽ bước vào một cái bẫy đô thị khổng lồ xa lầy vào cuộc chiến tranh nhân dân, đẫm máu ngay trong lòng thành phố. Nơi đó ranh giới giữa dân và lính bị xóa nhỏa và Hà Nội sẽ trở thành một cối say thịt nuốt chừng danh tiếng cùng sinh mạng của quân xâm lược. Lịch sử đã nhiều lần chứng minh rằng kẻ tấn công vào một đô thị phòng thủ quyết tử thường phải chịu thiệt hại gấp nhiều lần bên phòng ngự. Tuy nhiên thưa quý vị sự chuẩn bị

17:49 của Việt Nam không chỉ dừng lại ở tinh thần quyết tử hay những khẩu súng trường của dân quân tự vệ. Đó chỉ là bề nổi của tảng băng chìm, là lớp vỏ bọc để đánh lạc hướng đối phương. Phần sâu bên trong một cái bẫy quân sự chính quy la liệt võng thực sự đã được Bộ Quốc phòng Việt Nam, đứng đầu là Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng âm thầm răng sẵn ngay tại cửa ngõ Bắc Giang và Bắc Ninh, cách Hà Nội chỉ vài chục km. Một lực lượng dự bị chiến lược hùng hậu đang nằm thin thít chờ đợi. Đó là một quả đấm thép mà suốt những ngày giao tranh đẫm máu ở biên giới dù Lạng Sơn có nguy ngập đến đâu, Hà Nội vẫn kiên quyết không tung ra sớm. Chúng ta chấp nhận chịu thiệt thòi ở tuyến đầu để dành lực lượng này cho đoạn

18:36 quyết định cuối cùng. Lực lượng ấy là ai? Tại sao họ lại đáng sợ đến mức khiến các tướng lính Trung Quốc phải cân nhắc rút quân ngay khi cánh cửa đồng bằng vừa hé mở và cú đấm hồi mã thương mà họ chuẩn bị tung ra sẽ khủng khiếp như thế nào? Xin mời quý vị cùng tôi tiếp tục theo dõi ở phần sau khi chúng ta giải mã bí ẩn về quân đoàn một quả đấm thép dự bị cái bẫy chết người ở cửa ngõ thủ đô cùng những động thái thần tốc của quân đoàn hai từ Campuchia bầu trời yên tĩnh đầy tính toán sức mạnh của tên lửa đạn đạo và bóng ma của liên sô tử phương bắc tất cả sẽ dần hé lộ một thế trận tổng hợp hoàn hảo mà cha ông ta đã bày binh bố trận để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng

19:22 của dân tộc. Kính thưa quý vị thính giả thân mến, trong suốt những ngày Làng Sơn rực lửa một câu hỏi lớn đã giấy lên trong lòng rất nhiều người dân và cả những nhà quan sát quân sự quốc tế quân chủ lực của Việt Nam đâu hết rồi? Tại sao một đất nước vừa đánh thắng Mỹ sở hữu một quân đội hùng mạnh bậc nhất Đông Nam Á lại để bộ đội, địa phương và dân, quân tự vệ phải căng mình chịu trận trước biển người của đối phương? Phải chăng Việt Nam đã hết quân? Phải chăng chúng ta đã kiệt quệ? Câu trả lời là không? Chúng ta không hề kiệt quệ. Ngược lại, chúng ta đang thực hiện một nghệ thuật quân sự đỉnh cao, một sự kiên nhẫn đến lạnh lùng của những người cầm quân lão luyện. Đó chính là nghệ thuật dấu bài. Ngay tại thời điểm Lạng Sơn nguy

20:07 ngập nhất ở cách đó không xa tại khu vực Bắc Giang và Bắc Ninh, cửa ngó tử huyệt dẫn vào Hà Nội, một lực lượng khổng lồ đang nằm nín thở chờ đợi, đó chính là quân đoàn một binh đoàn quyết thắng. Đây không phải là một đơn vị bình thường. Quân đoàn một là quân đoàn chủ lực cơ động đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập từ năm 1973. Nếu ví quân đội ta như một cơ thể thì quân đoàn một chính là cánh tay phải đầy sức mạnh. Trong khi các quân đoàn anh em khác phải cang mình làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia truy quét tàn quân Pôp ở biên giới Tây Nam thì quân đoàn 1 được Bộ Quốc phòng lệnh phải án binh bất động tại miền Bắc. Họ được trang bị tinh nhuệ với những sư đoàn bộ binh lừng danh nhất lịch sử như sư đoàn 38 Đại đoàn Quân

20:54 Tiên Phong, đơn vị từng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ và sư đoàn 312 sư đoàn chiến thắng. Họ sở hữu hàng trăm xe tăng T54, T55 xe bọc thép pháo tự hành và dàn hỏa tiễn BM21. Những thứ vũ khí mà dân quân ở biên giới chỉ dám mơ ước. Việc không đưa quân đoàn một lên biên giới ngay từ đầu là một tính toán chiến lược tàn nhẫn nhưng cực kỳ chính xác. Các nhà lãnh đạo Việt Nam đứng đầu là Tổng Bí thư Lê Duẩn cùng các tướng lĩnh giàu kinh nghiệm đã hiểu rõ âm mưu của đối phương. Bắc Kinh muốn chúng ta tung hết chủ lực ra biên giới để bị xé lẻ và xa lầy trong các trận đánh nhỏ lẻ trên địa hình rừng núi. Nếu quân đoàn một bị hút lên Lạng Sơn, cửa

21:40 ngõ Hà Nội sẽ trở nên bỏ ngõ. Vì thế chúng ta chọn cách đánh lừa địch, dùng lực lượng địa phương để làm chậm bước tiến, mài mòn nhuệ khí và tiêu hao sinh lực đối phương. Hãy tưởng tượng kịch bản mà Bộ Quốc phòng Việt Nam đã răng ra khi quân Trung Quốc sau hai tuần kịch chiến ở Lạng Sơn đã mệt mỏi giá rời đạn dược vơi đi thương vong trồng chất và tinh thần dao động vì sự kháng cự quyết liệt. Nếu họ cố gắng vượt qua đèo để tràn xuống vùng trung du Bắc Giang, họ sẽ rời bỏ. Địa hình rừng núi có lợi cho phòng ngự để bước vào vùng đồng bằng chống trại. Chính đó, quả đấm thép quân đoàn một sẽ được tung ra. Ư thế về xe tăng và pháo binh cơ giới sẽ được phát huy tối đa. Những chiếc tăng của ta với kíp lái dày dặ kinh nghiệm chống Mỹ sẽ đối đầu

22:27 với những chiếc xe tăng Typ 6 vỏ mỏng của đối phương. Những dàn hỏa tiến BM21 sẽ chút bão lửa xuống đội hình biển người đang phơi mình giữa đồng trống. Đó sẽ không còn là một trận đánh thông thường mà là một cuộc thảm sát đối với quân xâm lược. Quân đoàn một giống như một con hổ khỏe mạnh sung sức đang nằm phục trong bụi rậm chờ con trâu điên đã bị thương tích dập mình. Sau khi húc vào đá, Lạng Sơn đi ngang qua để vồ ra cắn đứt cổ họng. Tướng lĩnh Trung Quốc chắc chắn biết điều này. Mạng lưới thám báo dày đặc của họ không thể không phát hiện sự hiện diện của hàng vạn quân chủ lực đang ém mình ở Bắc Giang. Đặng Tiểu Bình và các tướng soái Bắc Kinh nhìn vào bản đồ tác chiến mà dùng mình. Họ hiểu rằng chiếm được Lạng Sơn, chỉ là chiếm được cái vỏ, cái lõi thép, thực sự vẫn còn

23:14 nguyên vẹn phía sau. Nếu tiếp tục tiến bước 60, vạn quân của họ có nguy cơ bị xóa sổ, hoàn toàn không còn đường về nước. Nhưng nỗi khiếp sợ của Bắc Kinh không chỉ dừng lại ở quân đoạn một đang chờ sẵn phía trước. Một cơn ác mộng khác bất ngờ hơn và thần tốc hơn đang ập đến từ phía sau lưng từ một hướng mà họ không ngờ tới, đó là sự trở về thần tốc của những người lính phương nam. Trong khi đối phương tưởng rằng các quân đoàn thiện chiến nhất của Việt Nam đang bị kẹt ở đầm lầy Campuchia cách xa hàng ngàn km và không thể về kịp thì một cầu hàng không vĩ đại chưa từng có trong lịch sử quân sự Đông Dương đã được thiết lập. Quân đoàn hai binh đoàn Hương Giang, những người lính vừa húc đổ cổng

23:59 dinh độc lập ngày 30 tháng năm 1975 đã thực hiện một cuộc hành quân thần thánh để kịp về bảo vệ thủ đô. Với truyền thống thần tốc, họ được hỗ trợ bởi cầu hàng không của Liên Xô theo hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt Liên Xô. Những chiếc máy bay vận tải khổng lồ IN76 an 12 và đặc biệt là gã khổng lồ An2 đã bay thẳng từ Mosco và Viễn Đông đến Tân Sơn Nhất và các sân bay dã chiến ở Campuchia. Không khí tại sân bay Tân Sơn Nhất và Nội Bài lúc ấy khẩn trương đến nghẹt thở. Tiếng động cơ máy bay gầm rú suốt ngày đêm. Những chiếc bụng bầu uyển chuyển hạ cánh cửa khoang sau, mở ra nuốt chừng hàng trăm người lính cùng xe thiết giáp, rồi lại gầm rú lao lên bầu trời, hướng về phương Bắc. Những

24:44 người lính quân đoàn hai trên vai áo vẫn còn vương bụi đỏ của đất Campuchia trong ba lô. Có khi vẫn còn những trái thốt nốt chưa kịp ăn đã đặt chân xuống Nội Bài và hít thở gió lạnh buốt của mùa xuân Bắc Bộ. Họ không kịp nghỉ ngơi, vừa xuống máy bay đã nhận lệnh nhận vũ khí bổ sung và hành quân thẳng lên tuyến phòng thủ Sóc Sơn Vĩnh Phú Thái Nguyên. Sự xuất hiện của quân đoàn hai tại ngoại vi Hà Nội giống như một phép màu. Nó đã làm thay đổi hoàn toàn cán cân lực lượng. Nếu trước đó quân đoàn 1 đang đơn độc trấn giữ Bắc Giang thì nay với sự góp mặt của quân đoàn hai Việt Nam đã hình thành được thế trận gọng kìm cực kỳ vững chắc bao quanh thủ đô. Hai quân đoàn chủ lực mạnh nhất, xung sức nhất đã vào vị trí sẵn sàng nghênh chiến. Đến

25:30 lúc này, chúng ta đã thấy rõ hai tử huyệt mà Việt Nam ra. Tử huyệt thứ nhất là quân đoàn một phục sẵn ở Bắc Giang. Tử huyệt thứ hai là quân đoàn hai vừa thần tốc trở về tập kết quanh Hà Nội. Nhưng vẫn còn một tử huyệt thứ ba, một ẩn số bí ẩn nhất mà cho đến tận khi rút quân đối phương vẫn không dám khiêu khích. Đó là bầu trời yên tĩnh đầy tính toán sức mạnh của tên lửa đạn đạo và bóng ma của Liên Xô từ phương Bắc. Đứng trước thế trận thập diện mai phục đã được răng sẵn một cách hoàn hảo. Bắc Kinh cuối cùng buộc phải đưa ra một quyết định cay đắng. Chỉ sau chưa đầy một tháng tham chiến, họ đột ngột tuyên bố đã hoàn thành mục tiêu dạy cho Việt Nam một bài học và bắt đầu rút quân. Thực chất đó là một cuộc tháo chạy có trật tự. Trước khi cái bẫy khổng lồ ở

26:16 đồng bằng sông Hồng sập xuống. Họ hiểu rõ rằng phía trước là quân đoàn một chặn đầu, phía sau là quân đoàn hai khóa đuôi trên bầu trời là không quân và tên lửa đang sẵn sàng, còn phía bắc là sức ép nghẹt thở từ Liên Xô, tiếp tục tiến sâu hơn đồng nghĩa với nguy cơ bị tiêu diệt toàn bộ và không còn đường rút lui. Vì vậy quyết định rút quân trở thành lựa chọn bắt buộc để cứu vãn phần nào danh dự. Tuy nhiên, Bắc Kinh vẫn cố dựng lên một màn kịch chiến thắng giả tạo. Họ Diêu Giao trên đài phát thanh và báo chí rằng quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đã hoàn thành mục tiêu trừng phạt, đã dạy cho Việt Nam một bài học và nay rút về để bảo vệ hòa bình. Họ tổ chức những lễ đón rầm rộ đeo hoa đỏ cho binh lính trở về gọi đó là chiến thắng vẻ vang.

27:03 Nhưng thưa quý vị, lịch sử không dễ bị che mắt. Làm gì có kẻ chiến thắng nào mà không chiếm được thủ đô đối phương, không tiêu diệt được chủ lực, đối phương lại phải vội vã quay đầu bỏ chạy. Khi cuộc chiến mới diễn ra chưa đầy một tháng, điều đáng lên án nhất chính là hành vi của họ trên đường rút lui. Bắc Kinh đã ra lệnh thực hiện chính sách tiêu thổ sạch, đốt sạch, phá sạch, cướp sạch. Tư duy của họ là tư duy của kẻ tiểu nhân. không chiếm được thì phải phá cho tan hoang khiến Việt Nam kiệt quệ và không thể ngóc đầu lên trong nhiều năm. Tại thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai và nhiều nơi khác mà gót dày quân xâm lược đi qua, không còn một ngôi nhà nguyên vẹn. Họ dùng thuốc nổ đánh sập từng cây cầu, từng trường học, từng bệnh viện. Thậm chí những công trình mang

27:49 tính biểu tượng văn hóa và lịch sử cũng không được tha như hang bó. Nơi Bác Hồ từng sống và làm việc cũng bị đặt mìn phá hoại. Họ còn hành xử như những toán cướp. Những đoàn xe tại quân sự khi rút về không chở thương binh mà chở đầy của cải cướp bóc được từ nhân dân ta, từ trâu bò, lợn gà đến những bao thóc giống. Thậm chí cả nồi niêu xong trảo của người dân nghèo cũng bị vơ vét mang về bên kia biên giới. Họ gải mìn bừa bãi trên ruộng đồng và nguồn nước để ngăn cản người dân quay lại sinh sống. Những bại mìn ấy đã để lại hậu quả giai giảng hàng chục năm sau, cướp đi đôi chân của biết bao người nông dân vô tội. Thưa quý vị, hành động ấy tuyệt đối không phải là của một người thầy đi dạy bài học mà là

28:34 hành vi của một kẻ thất bại trong cuộc đánh cược và chút hận thù lên dân thường. Nó phản ánh rõ bản chất của cuộc xâm lược, đối lập hoàn toàn với sự tàn bạo và hèn hạ ấy là thái độ ứng xử nhân văn cao thượng của Việt Nam. Vào thời điểm Bắc Kinh tuyên bố rút quân lệnh tổng động viên của chúng ta vừa được ban hành, hàng triệu người Việt Nam đang sục sôi khí thế súng đã lên nòng quân chủ lực đã vào vị trí sẵn sàng. Về mặt quân sự, chúng ta hoàn toàn có quyền và có đủ khả năng thực hiện những đòn truy kích quyết liệt, có thể biến con đường rút lui của họ thành con đường chết giống như cha ông ta từng làm ở ải Chi Lăng năm xưa. Nhưng Việt Nam đã không làm thế. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã đưa ra một quyết định mang tầm vóc

29:20 nhân văn vĩ đại cho phép địch rút quân. Chúng ta không chặn đường, không đánh úp và đội hình đang rút lui, trừ những nơi chúng còn ngoan cố phá hoại, chúng ta mở một con đường sống cho kẻ thù. Tại sao chúng ta lại làm vậy? Có phải vì nhu nhược không? Đó chính là bản lĩnh của một dân tộc yêu chuộng hòa bình. Chúng ta hiểu rằng máu của người lính Trung Quốc cũng là máu người họ, cũng là nạn nhân của tham vọng chính trị. Giết thêm nhiều người nữa không làm đất nước ta giàu lên mà chỉ khoét sâu thêm hố thù hận giữa hai dân tộc láng giềng. Như Nguyễn Trại đã từng viết trong Bình Ngô đại cáo Thần Vũ, chẳng giết hại thể lòng, trời ta mở đường hiếu sinh, Việt Nam đã thắng. Chúng ta thắng không chỉ bằng việc giữ vững được biên cương bảo

30:06 vệ được Hà Nội mà còn thắng ở tư thế của một người quân tử. Chúng ta đã trải chiếu hoa cho giạc về để giữ lấy hòa bình cho muôn dân. Cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 về mặt súng đạn đã kết thúc. Nhưng những bài học về bản lĩnh trí tuệ và nhân văn của dân tộc ta thì vẫn còn nguyên giá trị đến muôn đời sau. Khi tiếng súng trên toàn tuyến biên giới phía Bắc tạm ngưng và quân Trung Quốc rút hết về bên kia biên giới, nhiều người tưởng rằng hòa bình đã trở lại, nhưng thực tế lại khác xa. Khi khói lửa tan đi trước mắt đồng bào ta là một khung cảnh hoang tàn đến rợn người. Sáu tỉnh biên giới phía Bắc vốn đã khó khăn nay, gần như bị san phẳng hoàn toàn. Thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai chỉ còn là những đống gạch vụn. Không một ngôi

30:52 trường, không một bệnh viện, không một sĩ nghiệp nào còn nguyên vẹn. Nỗi đau vật chất dù lớn đến đâu, chúng ta vẫn có thể cắn răng, chịu đựng và xây dựng lại từ đầu. Nhưng nỗi đau tinh thần thì dai rằng và nhức nhối hơn nhiều. Đó là nỗi đau của sự phản bội từ người anh em mà chúng ta từng tin tưởng. Người Việt Nam bàng hoàng nhận ra rằng kẻ từng kề vai sát cánh, từng nói những lời môi hở răng lạnh, lại có thể lạnh lùng đâm một nhát giao trí mạng vào sau lưng ngay khi chúng ta vừa bước ra khỏi cuộc chiến chống Mỹ gian khổ. Và sự tàn khốc ấy không dừng lại ở cuộc rút quân. Từ năm 1979 đến năm 1989, biên giới phía Bắc chưa bao giờ thực sự ai ăm tiếng súng. Đối phương chuyển sang chiến lược chiến

31:38 tranh phá hoại nhiều mặt và lấn chiếm dần. Họ duy trì một áp lực quân sự khổng lồ sát biên giới, buộc Việt Nam phải căng mình duy trì một lực lượng quân đội thường trực cực lớn, từ đó làm kiệt quệ nền kinh tế vốn đang bị bao vây cấm vận. Đỉnh điểm của sự tàn khốc này là mặt trận Vị Xuyên Hà Giang, nơi được mệnh danh là cối say thịt của thập kỷ 80. Nếu Lạng Sơn năm 1970 chính là đòn đánh sấm sét thì Vị Xuyên những năm sau đó là đòn tra tấn chậm rãi dai giảng. Đối phương biến những đỉnh núi đá tai mèo thành bãi thử vũ khí ná pháo không tiếc tiền. Có những ngày chỉ trong một buổi sáng, họ bắn xuống vị xuyên hơn 30.000 quả đạn pháo. Đá núi vốn cứng như thép dưới hỏa lực điên cuồng ấy đã bị vôi hóa nát vụn

32:25 thành bột trắng xóa. Những cao điểm 1509, 770 685 bị phạt thấp xuống cả mét. Người lính gọi đó là lò vôi thế kỷ. Tại cái lò vôi khủng khiếp ấy, hàng vạn người con ưu tú của đất Việt, phần lớn là những chàng trai 18 đôi mươi, vừa rời ghế nhà trường đã ngã xuống để giữ từng tấc đất biên cương. Họ sống trong hang đá uống nước suối thiếu thốn đủ bể nhưng họ vẫn viết nên những lời thể bất tử trên báng súng trên vách đá, sống bám đá, chết hóa đá bất tử. Máu của họ đã tô thắm thêm cho cột mốc chủ quyền khẳng định một chân lý đanh thép đất này là của người Việt. Dù đối phương có bắn nát đá núi cũng không thể bắn nát được ý chí quật cường của chúng tôi. Đến [chuông]

33:12 năm 1989, khi nhận thấy không thể khuất phục được Việt Nam bằng quân sự và khi tình hình thế giới thay đổi, đối phương buộc phải bình thường hóa quan hệ, tiếng súng ở Vị Xuyên mới thực sự chấm dứt. Nhìn lại toàn bộ cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc từ những ngày khói lửa năm 1979 đến 10 năm dài rằng rạc ở Vị Xuyên, chúng ta thấy đây là một chương lịch sử bi tráng nhưng cũng đầy tự hảo. Nó để lại những bài học xương máu mà thế hệ hôm nay và mai sau không bao giờ được phép lãng quên bài học. Về sự cảnh giác thường trực bài học về lòng tin phải đặt đúng chỗ và trên hết là bài học về sức mạnh tự cường. Vậy tổng kết lại Hà Nội, trái tim của cả nước. đã được bảo vệ an toàn tuyệt đối nhờ vào điều gì? Không phải

33:57 nhờ may mắn hay sự nhân từ của kẻ thù mà nhờ một thế trận tổng hợp hoàn hảo được dệt nên bởi ba lớp giáp sắt không thể xuyên thủng. Lớp giáp thứ nhất là sức mạnh răn đe quân sự cái bẫy thiên la địa võng được răng sẵn với quân đoàn một chặn đầu, quân đoàn hai khóa đuôi không quân và tên lửa sẵn sàng chút lửa nếu đối phương tràn xuống đồng bằng. Lớp giáp thứ hai là sức ép địa chính trị bóng ma liên xô từ phương bắc với hiệp ước phòng thủ đã ký kết tạo nỗi sợ lưỡng đầu thọ địch. Và lớp giáp thứ ba mạnh mẽ và vô hình nhất chính là hào khí thăng long, tinh thần dân tộc, ý chí quật cường và thế trận lòng dân. Hà Nội chưa bao giờ thất thủ dù chỉ trong ý nghĩ bởi

34:42 vì Hà Nội đã được che chở bằng xương máu của Lạng Sơn Cao Bằng Hoàng Liên Sơn Vị Xuyên và bằng trí tuệ của những người cầm quân kiệt xuất. Người Trung Quốc đã nhận ra rằng họ đang đối đầu với một dân tộc kỳ lạ khi bị dồn vào chân tường, sức mạnh phản kháng, không những không giảm đi mà còn bùng nổ gấp bội. Ngày nay, nếu quý vị lái xe trên đường cao tốc Hà Nội, Lạng Sơn, quãng đường 135, 5 km ấy chỉ mất chưa đầy 2 giờ đồng hồ, những chiếc xe bon chạy qua những đồi sim, đồi vải xanh ngát, qua ải, chi lăng, hùng vĩ, thật thanh bình và thơ mộng. Nhưng hãy nhớ rằng cách đây hơn bốn thập kỷ 135 km ấy là con đường dài nhất, xa xôi nhất và đáng sợ nhất trong mắt 60 vạn quân xâm

35:27 lược. Đó là khoảng cách giữa chiến tranh và hòa bình, giữa nô lệ và tự do. Hà Nội hôm nay đã khác xưa rất nhiều. Những hầm hào năm xưa ở công viên Bách Thảo Thống Nhất đã được lấp đầy bởi hoa và cỏ xanh. Những ngụ súng phòng không trên nóc nhà đã nhường chỗ cho những tòa cao ốc chọc trời và những quán cà phê sân thượng lộng gió. Tiếng còi báo động phòng không đã được thay thế bằng tiếng còi xe và tiếng nhạc sôi động của một thủ đô hòa bình hội nhập và phát triển. Nhưng quý vị thân mến, chúng ta không được phép quên rằng cái giá của sự bình yên này rất đắt. Hòa bình không phải là thứ được ban tặng miễn phí. Nó được mua bằng sự cảnh giác, bằng sức mạnh tự cường và bằng máu xương của cha anh. Muốn có hòa bình phải luôn chuẩn bị cho chiến tranh.

36:13 Hà Nội an toàn vì chúng ta mạnh. Mạnh không chỉ ở súng đạn mà mạnh ở thế trận lòng dân, ở sự đoàn kết của 100 triệu người Việt Nam và ở trí tuệ bản lĩnh của thế hệ trẻ, những người chủ tương lai của đất nước. Chúng ta khép lại câu chuyện về cuộc chiến năm 1979 không phải để khơi gợi hận thủ. Việt Nam là dân tộc bao dung chúng ta sẵn sàng gác lại quá khứ để hướng tới tương lai làm bạn với tất cả các nước. Nhưng gác lại không có nghĩa là lãng quên. Chúng ta tha thứ nhưng không bao giờ được phép quên. Quên lịch sử là có tội với tổ tiên. Quên sự hy sinh của những người linh lạng sơn cao bằng vị xuyên là có tội với những linh hồn đã hóa đá nơi biên cương. Mỗi khi đi trên con đường quốc lộ 1A từ làng Sơn về Hà

37:00 Nội, xin quý vị hãy nhớ rằng dưới lớp nhựa đường phẳng lì ấy là mồ hôi và máu của cha anh. 135 cây số ấy chính là khoảng cách giữa chiến tranh và hòa bình. Giữ được 135 cây số ấy, an toàn là giữ được trái tim của tổ quốc đập nhịp nhàng. Kính thưa quý vị, câu chuyện giải mã bí mật 135 km cuối cùng và những toan tính nghẹt thở của lịch sử xin được khép lại tại đây. Hy vọng qua loạt ký sự này quý vị đã có thêm một góc nhìn sâu sắc, chân thực và đầy tự hào về bản lĩnh Việt Nam trong những giờ phút ngàn cân treo sợi tóc. Chúng ta tự hào vì đã được sinh ra trên mảnh đất anh hùng này và tự hứa với lòng mình sẽ sống xứng đáng với sự hy sinh của người đi trước. Và thời

37:47 lượng của video ngày hôm nay của chúng tôi cũng xin dừng lại tại đây. Quý vị và các bạn thấy sao về trận đánh lịch sử này? Hãy để lại bình luận ý kiến bên dưới video để cùng thảo luận nhé. Đừng quên nhấn nút đăng ký kênh Người Kể Việt sử và bật chuông thông báo để không bỏ lỡ những video mới nhất về lịch sử quân sự và các trận đánh hào hùng của dân tộc. Xin chào và hẹn gặp lại quý vị trong những video tiếp theo.

Share

YouTube Video Summaries