0:00 Bạn đã bao giờ nghe đến cái tên Zinomorph chưa? Đây là một chủng loài ngoài hành tinh mà vũ trụ dường như đã ưu ái ban cho khả năng phát triển vượt bậc về mặt thể chất. Chính sự tiến hóa ấy đã biến Zinomorph thành một cỗ máy giết chóc đáng sợ, một trình vật có lẽ nguy hiểm bậc nhất ngay cả khi chúng chỉ là những phôi thai còn trong chứng. Càng tìm hiểu sâu về Zinomor, có lẽ phần lớn chúng ta sẽ càng cảm thấy khiếp sợ. Nhưng vẫn có một số ít người lại dành cho chúng một sự ngưỡng mộ nhất định. Hôm nay vũ trụ kinh dị sẽ cùng các bạn khám phá về con quái vật đã gieo rắc biết bao nỗi kinh hoàng cho loài người mỗi khi bước chân ra ngoài thiên ả xa xôi này. Lưu ý rằng bài phân tích này chỉ đề cập đến các chủng loài Genomorph trong vũ trụ của bốn phần Alien G cùng với hai phần phim Prometheus và Alien Covenant.
0:48 Còn giờ thì chúng ta cùng bắt đầu thôi. Thủy tổ của loài người. Trước khi đi sâu vào nguồn gốc của Genomorph, chúng ta cần điểm qua một chút về thủy tổ của nhân loại trong bối cảnh của loạt phim Alien trước. Dựa trên các nghiên cứu và phát hiện khảo cổ, loài người trên trái đất được tạo ra từ DNA của một cá thể thuộc chủng ngoài hành tinh. Sau này được biết đến với tên gọi chung là Engineers. Tuy nhiên, vì một lý do nào đó, hàng triệu năm sau, chủng tộc Engineers lại quyết định tiêu diệt và xóa sổ sản phẩm mà họ đã tạo ra. Các Engineers đã nghiên cứu một loại vũ khí sinh học, một tứ chất lỏng màu đen trên hành tinh LV23 mà sau này được các nhà khoa học của Wayland Uty đặt cho một mã định danh là tác nhân
1:36 A03959X.91 hay còn được biết đến với cái tên khác là ngọn lửa Prometheus. Đây thực chất là một mầm mệnh biến đổi gen cực kỳ mạnh mẽ và nguy hiểm bao gồm hàng triệu vi sinh vật nhỏ có khả năng giúp tiến hóa hoặc thiêu hủy DNA của các sinh vật sống một cách chóng vánh. Do tính chất dễ biến đổi của nó ở nhiệt độ môi trường ngoài nên các engineers đã lưu giữ mầm bệnh này trong những thùng chứa đặc biệt được gọi là steide ulse. Tuy nhiên, trong quá trình thực nghiệm, họ đã gặp phải một số trục chặc hoặc cũng có thể là tai nạn khiến cho chiếc phi thuyền cùng toàn bộ thành quả nghiên cứu bị mắc kẹt lại trên hành tình LV 223. Đến cuối năm 2093, phi hành đoàn tàu Prometheus đã đặt chân đến hành tinh LV223 và tìm ra được những tàn tích cổ
2:22 xưa kia. Trong chuyến thám hiểm này, họ phát hiện một loại chất lỏng màu đen, thứ mà các Engineers đã dự định dùng để giải xuống Trái Đất nhưng không thành. Đây cũng chính là khởi nguồn của loài Zinomorph. Android David không biết vì sao đã âm thầm lấy một lượng nhỏ dung dịch này cho nhà khảo cổ học Charlie Hollowway uống. Nói sơ qua David thì đây là gã người máy sinh học được chế tạo bởi Peter Wayen nhằm giúp ông ta thực hiện mưu đồ của mình trong chuyến thám hiểm tìm về cội nguồn của loài người với con tàu Prometheus. Tuy nhiên, có lẽ vì David cho rằng mình ưu việt hơn con người, coi mình như một đấng sáng tạo nên đã tự ý thực hiện hành động trên. Hoặc cũng có thể đó là mệnh lệnh từ trước của Wayland. Quay trở lại với Charlie Hollowway, thứ dung dịch kia đã nhanh chóng hủy hại DNA của anh chỉ sau
3:09 24 tiếng. Nhưng tình tiết đáng chú ý nhất chính là Charlie đã quan hệ với bạn gái anh sau đó vài tiếng. Điều này vô tình dẫn đến sự ra đời của Trilobite, một sinh vật với hình dạng giống như một con mực lớn cùng với các xúc tu. Sinh vật này sau đó đã bám chặt vào mặt của một Engineers. Những hình ảnh cuối cùng ghi lại ở tàu Prometheus cho chúng ta thấy một con protozyomorph được sinh ra. Đây cũng chính là tiền đề giúp cho gã David nghiên cứu và phát triển nên phôi thai và chứng cho các face hugger sau này. Có thể hình dung rằng sau khi thấy được tác động của dung dịch đen lên cơ thể con người và việc Elizabeth sinh ra con quái vật Triobite, David nhận ra rằng chỉ cần một chút dung dịch đen và một vật chủ, hắn có thể tạo ra một giống loài mới. Có lẽ David muốn trở thành một
3:57 đấng sáng tạo, một chúa tể của những giống loài vượt trội. Những tình tiết mở đầu của Alien Covenant cho chúng ta chứng kiến sự việc David tìm đến Planet 4, một hành tinh có bầu khí quyển tương tự Trái Đất với những khu rừng rậm rạp và dãy núi đá hùng vĩ. Đây là nơi cư trú của một cộng đồng cư dân ngoài hành tinh được cho là một nhánh của các engineers hoặc chính là những người đã tạo ra các engineers. Lưu ý rằng đây chỉ là giả thuyết vì hình dạng của họ hoàn toàn khác biệt với Engineers. Tại đây, David đã giải thếu dung dịch đen lên bề mặt hành tinh, tiêu diệt toàn bộ giống loài bản địa và bắt đầu quá trình nghiên cứu, phát triển một giống loài mới của riêng mình. Về phần Elizabeth, cô đã bị David tận dụng thành một phần của cuộc nghiên cứu. Tuy nhiên, mọi nghiên cứu của gã ghể máy cũng chỉ dừng lại những phiên
4:43 bản sơ khai của Overmorphs. Những quả trứng dùng để chứa Face hugger bên trong hay lũ Neomorphs hung dữ đã tấn công nhóm thám hiểm của tàu Covenant khi họ đáp xuống bề mặt hành tinh. Quay trở lại với những cuộc thực nghiệm của David, sau khi không còn vật chủ nào để tiếp tục, hắn đã quyết định phát đi các thông điệp giả cầu cứu nhằm dẫn dụ những dạng sống khác đến chỗ hắn. Và con mồi xấu số đó chính là con tàu Covenant cùng phi hành đoàn của nó. Thành quả cuối cùng mà ta thấy trong sự kiện này là một con Pratomorph khổng lồ. Mặc dù con quái vật này đã bị tiêu diệt nhờ nỗ lực của Daniels cùng một vài người khác, nhưng họ vẫn không thể tránh khỏi số phận bi thảm giống như Elizabeth dưới bàn tay điên rổ của David. Sau khi đặt chân lên tàu Covenant, gãy
5:29 tiếp tục quá trình nghiên cứu và phát triển của mình lên phi hành đoàn, tạo ra phiên bản hoàn thiện của loài Zinomorph như hiện tại. Quá trình phát triển của Zinomorph trải qua năm giai đoạn, mỗi giai đoạn đều có những đặc điểm và vai trò quan trọng trong vòng đời của loài quái vật này. Giai đoạn 1, Overmorph. Trứng theo một số ghi chép thì trứng Overmorph dùng để chứa face hugger trong tự nhiên thường được Queen Genomorph tạo ra. Tuy nhiên, đây không phải là cách duy nhất. Trên thực tế, trứng không phải là thứ tự nhiên mà có ngay từ đầu mà là một sự tiến hóa qua hàng triệu năm của các loài động vật. Trong quá trình tiến hóa của các loài, một số sinh vật cổ đại bắt đầu phát triển phôi trong trứng để bảo vệ sự phát triển của con non. Điều này giúp chúng có thể sinh sản cho môi trường khô giáo. Đây chính là tiền đề
6:16 giúp David nghiên cứu và tạo nên những phiên bản sớ khai đầu tiên của Overmorph. Như ta đã thấy, sau khi chiếm được quyền kiểm soát tàu Covenant, David đã gửi thông điệp cho Wayland and Uty thông báo rằng tàu vẫn sẽ giữ lộ trình đến Orage 6. Tuy nhiên, kế hoạch thực sự của hắn là sử dụng những người ngủ đông và phi hành đoàn còn lại làm đối tượng thí nghiệm sinh học, tiếp tục phát triển giống loài Genomorph. Nhìn vào mắt thường, trứng Overmorph có chiều cao khoảng 60 cm, nặng khoảng 27 kg. Lớp da ngoài sần sùi, có màu nâu đen được cấu thành từ ba thành phần. Đầu tiên, phần vỏ trứng có bề mặt ngoài sần xùi, bên trong là lớp thịt chứa nhiều dây thần kinh cảm ứng, có khả năng phát hiện sự xuất hiện của bất kỳ sinh vật sống nào đến gần thông qua nhiệt lượng cơ thể. Lớp thịt này cũng hoạt động như một cơ
7:01 quan hữu cơ giúp duy trì nhiệt độ ổn định cho mầm và face hugger bên trong. Phần đỉnh của vỏ trứng khép lại như một búp hoa và có thể mở ra thành bốn cánh. Phần thứ hai chính là một face hugger, một công cụ dùng để cấy mầm vào trong cơ thể vật chủ. Cuối cùng phần mầm được chứa bên trong Faceuger chính là phôi của Zinomorph. Khi xâm nhập vào cơ thể vật chủ, phôi sẽ sử dụng cơ thể nạn nhân làm nguồn cung cấp dưỡng chất, đồng thời tiếp nhận và kết hợp ADN của sinh vật đó để phát triển sang giai đoạn tiếp theo. Trong một số trường hợp đặc biệt, mầm có thể được cấy trực tiếp vào các vật chủ thông qua Geninomorph trưởng thành mà không cần đến Faceuger. Tuy nhiên, những trường hợp này rất hiếm xảy ra do tập tính đặc trưng của loài. Trong những cuộc chạm chán đầu tiên với Genomorph, người ta từng tin rằng Freugger đã cấy một vô thai thực sự vào vật chủ, tương
7:47 tự như cách một số loài côn trùng ký sinh trên trái đất sinh sản. Tuy nhiên, các nghiên cứu sau này đã chỉ ra rằng điều này là không chính xác. Thay vào đó, Face Hugger tiêm vào vật chủ một chất mang tên là Pleasurous Prepotence. Đây là một loại chất có khả năng đột biến cực cao. Tương tự loại chất lỏng màu đen mà các engineers từng sử dụng trong Prometheus. Pleasurous Prepotence có khả năng phân tách vật liệu di chuyển với tốc độ chóng mặt, đồng thời thu thập sinh khối từ bất kỳ vật liệu hữu cơ nào xung quanh. Chỉ cần có mã gen của một sinh vật sống và đủ lượng dưỡng chất cần thiết, chất này có thể tổng hợp và phát triển từ một sinh vật đơn bào thành một cá thể hoàn chỉnh với các cơ quan đầy đủ chỉ trong vài giờ. Quá trình này chính là khởi đầu của giai đoạn chest burster mà chúng ta sẽ cùng tìm hiểu chi tiết hơn ở phần tiếp theo của video. Theo thời gian, nếu không bị quấy dày, các
8:33 quả trứng sẽ phát triển một số dễ giống như tua lan tỏa từ gốc của chúng. Những dễ này có thể có chức năng hấp thụ dưỡng chất tương tự như thực vật. Mục đích là duy trì sự sống cho chính nó và face hugger bên trong cho đến khi có vật chủ tiềm năng xuất hiện. Một lý thuyết khác thì cho rằng những tua này có thể được sử dụng để giao tiếp giữa các quả trứng giống như các signaps trong tế bào não. Cả kết nối này có thể cho phép các quả trứng thông báo cho nhau về sự xuất hiện của vật chủ hay bất kỳ thay đổi nào trong tổ. Giai đoạn hai, Face Hugger. Ký sinh chủ động. Mặc dù ban đầu face hugger chỉ là một phần của trứng, sau một thời gian phát triển nó hình thành một hệ cơ riêng bao gồm các chi và đuôi. Tuy nhiên sự sống của Face Hugger lại hoàn toàn phụ thuộc vào phôi của Genomorph. Hiểu đơn giản,
9:20 Face Hugger chỉ là phương tiện để hoạt chất plagerous praypt potence có thể tiếp cận và được đưa vào cơ thể vật chủ. Trong hệ sinh thái trên trái đất cũng tồn tại những sinh vật có khả năng điều khiển cơ thể sống tương tự nhưng ở cấp độ thấp hơn. Chẳng hạn như sán Lagan Lenson. Loài sán này phải trải qua một chu trình ký sinh rất phức tạp để xâm nhập vào vật chủ tiềm năng. Ban đầu chúng tồn tại dưới dạng trứng nhỏ, dễ dàng tiếp cận các con kiến. Sau khi phát triển trong cơ thể kiến và đạt đến giai đoạn ấu trùng, sán lá gan dành quyền kiểm soát đáo của kiến. Lúc này, chúng buộc kiến di chuyển đến những nơi dễ bị phát hiện như lá cây hoặc ngọn cỏ, chờ đợi vật chủ lớn hơn như chim để tiếp tục vòng đời phát triển. Tuy nhiên, đối với một sinh vật bậc cao như Genomorph, chu trình này khá phức
10:05 tạp và khả năng cao là Face Huger, khó có thể tìm thấy được vật chủ trung gian thích hợp để có thể hoàn tất quá trình lây nhiễm. Vì vậy, Face Hugger được hình thành ngay bên trong Overmorph vừa để bảo vệ sự toàn vẹn của hoạt chất, vừa là bước chuẩn bị để nó có thể rời khỏi trứng và hoạt động độc lập cho đến khi bám vào được một con mồi cần thiết. Ngoại hình của Faceuger giống một loài chân khớp với tám chân giúp nó linh hoạt và nhanh nhẹn. Nó còn sở hữu một chiếc đuôi dài và một bộ phận phía sau giống túi khí dùng để cung cấp dưỡng khí cho vật chủ. Tuy nhiên, thay vì được bao phủ bởi lớp vỏ cứng như các loài chân khớp khác, Face Hugger lại có một lớp da với khả năng bám dính cực kỳ mạnh mẽ. Phía dưới sinh vật là một lỗ mở nhỏ, bên trong có một vòi hút dài khoảng 50 đến
10:51 60 cm, dùng để truyền phôi Zinomorph vào vật chủ. Phần da ở bụng còn tiết ra một chất an thần mạnh mẽ có thể khiến nạn nhân rơi vào trạng thái tê liệt chỉ sau vài giây tiếp xúc. Khi mầm đã phát triển đủ để tiến hóa lên giai đoạn tiếp theo, mối nguy hiểm của loài Ginomorph bắt đầu. Đây là thời điểm mà nếu bất kỳ sinh vật sống nào đến gần, vỏ trứng sẽ kích hoạt một loạt enzyme bảo hiệu cho faceuger sẵn sàng lao ra ngoài và tấn công con mồi. Đúng như tên gọi, Faceuger sẽ ôm chặt lấy mặt vật chủ và cấy mầm vào cơ thể qua đường miệng. Lúc này vật chủ sẽ hoàn toàn bị tê liệt bởi chất an thần. Các chi của Fesuger bám chặt vào đầu nạn nhân với lực siết vừa đủ để tránh gây tổn thương vật lý cho hộp sọ. Bên cạnh đó, chiếc đuôi dài của Face Hugger sẽ siết lễ phần cổ, bảo vệ quá
11:37 trình truyền phôi. Cần lưu ý rằng hầu như không có bất kỳ phương thức nào để tách Face Hugger ra khỏi mặt nạn nhân trong quá trình này cả. Mà nếu cố gắng, phần đuôi sẽ càng siết chặt hơn, gây ngạt thở hoặc tệ hơn là tổn thương đốt sống cổ, có thể dẫn đến cái chết ngay lập tức dành cho vật chủ. Việc sử dụng dao hay bất kỳ loại vũ khí nào tương tự để cắt vào Face Hugger cũng là một sai lầm nghiêm trọng. Bởi máu của Face Hugger cũng có đặc tính giống như Genomorph trưởng thành có chứa axit ăn mòn cực kỳ mạnh. Mặc dù bám chặt vào mặt của nạn nhân nhưng Face Hugger vẫn có cơ chế giúp cho vật chủ hô hấp trong quá trình truyền mầm. Đây chính là lúc mà hai túi khí phía sau Face Huger sẽ bắt đầu hoạt động, cung cấp dưỡng khí và duy trì sự sống cho vật chủ. Sau khi đảm bảo việc hình thành của con non đã hoàn tất cũng như không còn bất kỳ lượng hoạt
12:23 chất nào trong cơ thể, face socker sẽ chết ngay lập tức. Giai đoạn ba, chest burster con nonon. Quá trình phát triển của chest burster bắt đầu ngay khi face kéo hoạt chất plagurus pray potens vào khoang ngực của vật chủ. Chất lỏng này kích hoạt quá trình tại cấu trúc hóa học gen của các tế bào. Xây dựng chestbster từ chính vật liệu sinh học của vật chủ ở cấp độ tế bào. Như đã đề cập trước đó, Face Hugger chỉ nhà vật chủ ra khi quá trình cấy mầm đã hoàn tất. Lúc này phôi chestburster đã thành hình và bắt đầu hấp thụ chất dinh dưỡng và máu để phát triển gây ra cơn đói cồn cao không thể kiểm soát được vật chủ. Tuy nhiên, quá trình phát triển diễn ra quá nhanh, kèm theo đó là một loạt triệu chứng như buồn nôn, đau họng, chóng mặt, mệt mỏi. Những
13:10 triệu chứng này cũng có thể là kết quả của cơ chế phòng vệ của hệ miễn dịch khi phát hiện tác nhân lạ. Dù vậy, các triệu chứng này không kéo dài lâu bởi vì ngoài việc hấp thụ chất dinh dưỡng, mầm Genomorph còn sao chép ADN của vật chủ, vô tình đánh lừa hệ miễn dịch của cơ thể. Cụ thể, trong quá trình tái cấu trúc mã gen, nó sẽ phân chia tế bào cũng như sao chép khoảng 10 đến 15% ADN của vật chủ. Việc phân chia này giống như việc chứng của động vật hữu nhũ sau khi thụ tinh phân chia tế bào để thành phôi rồi phát triển thành con non. Mâm của Ginomorph cũng như vậy nhưng nó không cần thủ tình và trong thời gian rất ngắn mầm sẽ phân chia để phát triển thành phôi Genomorph trong vật chủ. Ngoài ra, trong quá trình phân chia tế bào của mầm, vật chủ sẽ cảm thấy thể chất rất khỏe mạnh. Nguyên do là sự sáo
13:57 trộn trong cơ thể dẫn đến việc adrenalin trong máu tăng cao. Tùy theo mức độ nhận biết của hệ miễn dịch và thể chất của vật chủ mà quá trình phát triển của Chess Burster diễn ra từ vài giờ cho đến cả ngày. Khi phát triển hoàn thiện, Chess Burster sẽ chèn ép phổi và một số cơ quan nội tạng trong ngực khiến vật chủ cảm thấy khó thở và đau đớn dữ dội. Lúc này Chess Burster sẽ tiết ra một loại enzyme giúp làm mềm mô và xương, từ đó dễ dàng phá vỡ khoang ngực của vật chủ để thoát ra ngoài. Quá trình tiết enzyme này gây ra những cơn đau đớn tột cùng và điều tồi tệ là nó không chỉ diễn ra trong vài giây mà có thể kéo dài vài phút. Vật chủ vừa phải chịu đựng chấn thương nội tạng vừa bị tổn thương nghiêm trọng ở phần ngực dẫn đến cái chết không hề dễ chịu. Như đã đề cập trước đó, quá trình tái cấu trúc tế bào của mầm đã sao
14:42 chép khoảng 10 đến 15% ADN của vật chủ. Điều này giúp Chestburster ngay từ khi sinh ra đã có sự hiểu biết nhất định về vật chủ, đồng thời phù hợp với môi trường xung quanh. Quá trình này giúp tiết kiệm thời gian để nó nhanh chóng thích nghi với môi trường và tập tính của loài mà nó sắp săn đuổi. Nếu bạn chưa biết, ADN của chúng ta không chỉ mang đặc tính di truyền của loài mà còn chứa đựng những quy tắc sinh tồn, những bài học của tổ tiên. Giống như việc một con cá hồi sinh ra ở vùng nước ngọt và ngay lập tức nó biết nó phải đi về biển hoặc những con rùa biển sống ở đại dương. Nhưng khi đến thời kỳ sinh sản, dù không có bất kỳ chỉ dẫn nào, chúng vẫn biết để quay về bãi cát của bờ biển để đẻ trứng. Và chính nhờ vào sự sao chép này, mâm của Zinomorph đã tạo ra sự đa dạng dành cho giống loài. Từ những genomorph lai với ADN của con người và
15:28 động vật cho đến những Genomorph với ADN của các engineers hay thậm chí là sự kết hợp với thiên địch của chúng chính là các predators tạo nên những sát thủ cực kỳ đáng sợ. Với sức mạnh của những biến thể này, có lẽ chúng ta sẽ cần đến một video khác trong tương lai để nói cho rõ hơn. Quay trở lại với Chessburster. Nó có ngoại hình giống như một con giun lớn với hai tay nhỏ ở phía trước và phần chân chưa phát triển hoàn thiện. Tuy nhiên, nó đã sở hữu một chiếc đuôi đặc trưng của loài Genomorph. Hàm của Chessbster có răng kèm theo một chiếc hàm nhỏ bên trong khoang miệng. Tuy nhiên, da của Chessbuster vẫn còn mềm và dễ bị tổn thương. Bù lại, tốc độ của nó thật sự đáng nể. Đặc biệt đối với những cá thể có thời gian ủ mầm lâu hoặc đã được tối
16:14 ưu hóa gen trong quá trình lai tạo, chestbster non sinh ra sẽ mang hình dáng của một xinomorph nhỏ. Mặc dù phần da vẫn chưa cứng cát, những cá thể này cũng tỏ ra hung án hơn so với một chestbster chưa hoàn thiện. Sau khi thoát ra khỏi vật chủ, Chessbster sẽ tìm nơi ẩn nóu, sử dụng năng lượng tích lũy từ vật chủ để lột xác và trở thành genomorp. Quá trình lột giác và phát triển này diễn ra khá nhanh chỉ trong khoảng vài giờ hoặc ít hơn. Giai đoạn 4, Genomorph trưởng thành. Tùy thuộc vào vật chủ mà mầm đã ký sinh, Ginomorph trưởng thành sẽ mang hình dạng và khả năng của loài đó. Tuy nhiên, nếu xét chung, Genomor vẫn có vài điểm nhận dạng đặc trưng. Đầu tiên là hộp sọ hình trụ tròn được kéo dài ra
16:59 phía sau với rất nhiều tế bào cảm thính dọc hai bên giúp Genomorph xác định được không gian hay vị trí của con mồi một cách chính xác thông qua âm thanh. Hai chi trước của nó linh hoạt như tay của loài linh trưởng trong khi hai chi sau khỏe mạnh có thể đứng thẳng. Nếu cần di chuyển nhanh nó sẽ sử dụng cả bốn chi. Hệ cơ của Zinomorph phát triển vượt trội, đủ khỏe và linh hoạt giúp nó dễ dàng bám vào mọi loại địa hình. Da của Genomorph là lớp biểu bì cứng bao phủ toàn bộ cơ thể, có khả năng kháng lại các sát thương vật lý ở mức vừa phải. Phần đuôi được tạo hình như một mũi giáo nhọn với các lưỡi gươm vô cùng sắc bén. Cơ quan này vô cùng linh hoạt, có thể xuyên thủng thép và là thứ vũ khí nguy hiểm bậc nhất mà Genomorph thường sử dụng để hạ sát con mồi. Máu của
17:44 Genomorph cũng giống như của Chestbursters, một hợp chất chứa axit đậm đặc có thể ăn mòn được hầu hết mọi loại vật chất. Phần máu này chảy trong mạch của Genomorph với một áp lực rất cao. Nếu như làm vỡ mạch máu của Genomorph, nó sẽ gây ra những vụn nổ ống mạch. Từ đó, máu sẽ văng ra với một tốc độ rất đột ngột khiến cho kẻ thù của Jinomorph không kịp trở tay. Đây gần như là một cơ chế phòng vệ thụ động của loài này trước những mối đe dọa mà chúng không thể kiểm soát. Thoạt nhìn Zinomorph dường như không có mắt, nhưng qua giải phẫu xương sọ của nó lại có hốc mắt. Trong giải phẫu sinh học, mắt là một mô mềm và là bộ phận dẫn trực tiếp đến não. Điều này có nghĩa là mắt rất dễ bị tổn thương. Việc Ginomor phát triển phần mô cứng ở khu vực này có thể coi là một cách để che đi điểm yếu duy nhất
18:30 trên cơ thể, biến nó thành một cỗ máy săn mồi hoàn hảo. Vậy Genomorph có mất không? Câu trả lời là có nhưng không hoàn toàn để nhìn. Mắt của Zinomorph nằm phía sau lớp da cứng và thực chất chúng hoạt động như một máy quét hồng ngoại giúp Genomork phát hiện các động vật thân nhiệt. Điều này lý giải vì sao Android không phải là mục tiêu tấn công của Genomorph. Tuy nhiên, đây chỉ là những phỏng đoán vì việc nghiên cứu trực tiếp tầm nhìn của Zinomorph gần như là điều không thể và mô tả về cơ quan này của loài quái vật cũng hầu như không xuất hiện trong bất kỳ báo cáo nào từ trước cho đến nay của Wen Utany. Quay trở lại với cấu tạo đầu của Genomorph, khoang miệng của nó là một bộ phận thú vị và phức tạp bao gồm một hàm nhô da trước giống loài tinh
19:15 tinh hơn là con người. Geninomof cũng có bốn chiếc răng nanh chia đều cho mỗi hàm. Điều này cho thấy ngoài việc sao chép, mầm còn tái tạo các đặc điểm ADN của các loài thú đã bị loại mỏ trong quá trình tiến hóa của con người. Phần đầu lưỡi của Genomorph thực chất là một hàm trong có thể phóng ra ngoài với một lực vô cùng mạnh mẽ, đủ sức phá hủy xương sỏ của kẻ thù. Hàm trong này cũng có răng và có khả năng mở rộng giống như hàm ngoài. Và việc mở rộng này có thể là một cách hù dọa hoặc giao tiếp của loài Zinomorph. Ngoài ra có giả thuyết cho rằng tiếng rít của hàm trong là một dạng sóng âm giúp các cơ quan cảm thấy ngờ hộp sọ củaorp cảm nhận được vật thể xung quanh vì mắt của chúng chỉ nhận diện được động vật thân nhiệt. Dù được bảo vệ bởi một lớp da cứng có thể chống chịu các loại
20:02 hỏa lực tầm trung, Genomorph vẫn có một điểm yếu đó là lửa. Tuy nhiên, không phải kiểu thiêu cháy thông thường vì lớp da của chúng gần như bất hoại. Nguyên nhân mà Genomorph sợ lửa liên quan đến áp suất máu trong mạch của chúng hơn là nhiệt độ. Như đã nói, để cơ thể của Zinomorph hoạt động với cường độ cao, giữa tuần hoàn máu từ tim đến các bộ phận khác phải diễn ra liên tục với cường độ cực kỳ cao. Điều này vô hình chung trở thành điểm yếu chí mạng của Genomorph. Và nếu tiếp xúc lâu với nhiệt độ cao, áp suất trong mạch máu sẽ tăng lên và nếu vượt quá giới hạn chịu đựng của các ống mạch, chúng sẽ vỡ ra dẫn đến cái chết ngay lập tức dành cho Genomorph. Đó là nguyên nhân mà loài này sợ lửa đến như vậy. Như chúng ta đã biết, mâm có thể ký sinh ở nhiều loài sinh vật. Do đó,
20:47 Genomorph cũng có nhiều biến thể khác nhau. Hai chủng loại nổi bật nhất có thể kể đến là Drone và runner. Drone là biến thể phổ biến nhất của Zinomorph với vật chủ yếu là loài người hoặc những da sống bậc cao tương tự. Da của chúng có màu đen xám. Trong quần thể Zinomorph, Drone đóng vai trò như những con thợ truyền săn mồi và tìm vật chủ để đẻ trứng. Nó có thể đứng trên hai chân như con người và hai chi trước cũng linh hoạt như tay người. Có lẽ vì sao chép ADN của người drone sở hữu trí thông minh đáng kể. Điều này được chứng minh thông qua việc chúng thường xuyên có tập tính tận hưởng nỗi sợ hãi của con mồi. Ngược lại, runner là biến thể có vật chủ là những loài động vật bốn chân như chó, mò vân vân. Da của chúng có màu nâu đỏ thay vì đen xám như loài drone. Về trí thông
21:35 minh, Runner vẫn còn gây nhiều tranh cái, nhưng có lẽ chúng thua drone một bậc. Tuy nhiên, chúng có tốc độ cực kỳ đáng kinh ngạc. Dù vậy, runner không dẻo dai bằng drone. Chúng chủ yếu sử dụng đuôi và hàm để tấn công con mồi. Không giống drone, runner không có tập tính thưởng thức cái chết của con mồi mà chỉ tấn công nhanh chóng để kết liễu mục tiêu. Bên cạnh đó, hoạt chất plagurus Prepotens hay thế chất lỏng màu đen của các engineers còn có khả năng tạo ra vô số biến thể xinomorph khác nhau từ những phiên bản cấp thấp như đám Neomorphs trong Alien Covenant. Cho nên các biến thể cấp cao hơn như con alien dạng người được tạo ra từ bào thai của K. Harrison trong Alien Romelus. Giai đoạn 5. Queen Xenomorth và
22:20 các biến thể. Đến giai đoạn này, chúng ta sẽ phân tích sự tiến hóa cấp cao của loài Genomorph cũng như những nhiệm vụ mà các cá thể đảm nhiệm trong tổ của chúng. Sau một thời gian, loài drone sẽ tiến hóa thành warrior trong khi loài runner sẽ phát triển thành centry. Sự khác biệt chính giữa các loài này là lớp da của chúng trở nên cứng hơn do chúng hấp thụ kim loại thay vì khoáng chất như con người. Với lớp da cứng và khả năng cách nhiệt tốt hơn, hai loài này trở thành lực lượng chủ lực bảo vệ trứng và nữ hoàng Genomorph. Ngoài ra còn có biến thể Pretorian là những con warrior khỏe mạnh nhất được tiến hóa. Pretorian có đầu lớn hơn, da cứng hơn và nhiều ga nhọn trên sống lưng. Chúng lớn hơn nhiều so với loài warrior với sức chịu đựng đáng kinh ngạc, móng vuốt sắc
23:07 bén và sự nhắc nhẹn giúp Pretorian có khả năng chiến đấu cận chiến rất tốt. Phần đuôi của chúng cũng được cải tiến, tăng tầm tấn công và sức sát thương. Pretorian cũng có thể phun một lượng axit đáng kể. Nhờ vào tuổi thọ dài hơn, chúng có kinh nghiệm săn mồi và khả năng chiến đấu tốt hơn rất nhiều. Vai trò chính của Pretorian chủ yếu là bảo vệ nữ hoàng và trong một số trường hợp, chúng có thể hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ. Chúng cũng đóng vai trò điều phối các con drone và warrior thực hiện các nhiệm vụ cần thiết. Tiếng zí của Pretorian được cho là phương thức triệu tập hoặc ra lệnh cho các thành viên khác. Một số người cho rằng nếu giết chết Pretorian, các con cấp thấp mà nó điều phối sẽ mất phương hướng trong một khoảng thời gian. Chủng loại tiếp theo là Crusher được tạo ra từ những con centry khỏe
23:53 mạnh tiến hóa lên. Chúng có bốn chân như loài runner nhưng phần đầu được bao phủ bởi một lớp màng bọc thép cứng chắc. Lớp da này còn cứng cáp hơn cả da của Pretorian, có màu đen và ánh kim như kim loại. Hình dáng của Crusher giống như một con tê giác với một tấm khiên trên đầu. Sự phát triển này giúp chúng bảo vệ tổ hoặc làm tiên phong trong các trận chiến. Crusher sẽ lao về phía kẻ địch, sử dụng tấm khiên trên đầu để tấn công. Tuy nhiên, khi tấn công như vậy, nó gần như sẽ bị mù và chỉ có thể lao về phía trước. Vì tập trung vào việc da cố tấm khiên ở phần đầu, da ở lưng và bụng của Crusher không được bảo vệ tốt khiến những khu vực này dễ bị tổn thương nếu chịu hỏa lực mạnh. Mặc dù sở hữu cơ thể đồ sộ và tấm khiên lớn ở phía trước, Crusher vẫn rất nhanh nhẹn khi di chuyển. Trí thông minh của Crusher không
24:40 cao, chỉ ở mức độ động vật, vì vậy nó không thể đảm nhận nhiệm vụ điều phối đàn như Pretorian. Cuối cùng là nữ hoàng, một tạo vật tiến hóa cao nhất trong giống loài Genomorph. Giống như loài kiến và ong, Queen Genomorph đảm nhận vai trò sinh sản đẻ trứng để phát triển nói giống. Trên đầu nữ hoàng là một vương miện bằng thép siêu cứng có thể rút vào bên trong như một mai rùa để bảo vệ. So với Pritorian, Queen cao lớn và đồ sộ hơn rất nhiều. Các giác quan của nó được cường hóa vượt trội, cho phép điều phối tất cả các cá thể trong tổ một cách hiệu quả. Nữ hoàng còn cung cấp một loại sữa đặc biệt giúp các drone và runner tăng khả năng hấp thụ kim loại của chúng. Phần dưới bụng của nữ hoàng là một bọc trứng khổng lồ khiến nó gần như không thể di chuyển.
25:26 Mỗi giờ Queen có thể sinh sản hàng chục quả trứng. Tuy nhiên bọc trứng này được cấu tạo từ mô mềm, dễ tổn thương và không chứa máu axit nên gần như không có khả năng gây hại. Trong trường hợp cần thiết, Queen có thể tự loại bỏ bọc trứng khỏi cơ thể để có thể di chuyển. Mặc dù điều này sẽ khiến nó đau đớn nhưng không gây tử vong. Queen Zenomorph là cá thể độc nhất trong một tổ, đóng vai trò chỉ huy tối cao. Có thể xem nữ hoàng như một dạng trí tuệ tập trung H mind đảm nhiệm việc điều phối và ra lệnh cho toàn bộ các cá thể Genomorph liên kết với tổ. Như vậy chúng ta hoàn toàn có thể xác nhận rằng genomorph chính là đỉnh cao của sự tiến hóa. Chúng sở hữu cơ thể hoàn hảo, khả năng săn mồi vượt trội, sinh sản vô tính và khả năng thích nghi gần như với mọi môi trường kể cả những nơi khắc nghiệt
26:13 nhất. Nói không ngoa, đây là hình thái sinh vật vô cùng vượt trội nếu so với cơ chế sinh học của con người. Thật may mắn khi loài Genomorph chỉ tồn tại ở những nơi xa xôi ngoài không gian bởi nếu chỉ một cá thể xâm nhập vào sinh quyển Trái Đất, ngày tan của nhân loại có lẽ sẽ không còn xa. Có tin đồn rằng sau Alien Romelus, đạo diễn Ridley Scott cùng các cộng sự đang ấp ủ kế hoạch biến câu chuyện này thành hiện thực trên màn ảnh. Tuy nhiên, đó là chuyện của tương lai. Còn bây giờ xin chào và hẹn gặp lại các bạn trong những video kinh dịch kế tiếp.
27:22 H Đ