Bài những vấn đề lý luận về pháp luật _ TIẾT 2/5 _ HCMULAW

Tóm tắt ngắn gọn

Bài giảng này tập trung vào việc xác định mối liên hệ giữa pháp luật và các hiện tượng xã hội khác, bao gồm kinh tế, chính trị, nhà nước và các quy phạm xã hội. Mục tiêu là hiểu rõ hơn về bản chất và vai trò của pháp luật trong xã hội bằng cách xem xét nó trong tổng thể các mối quan hệ.

  • Kinh tế đóng vai trò quyết định đối với pháp luật, nhưng pháp luật cũng có tác động ngược lại đến kinh tế.
  • Chính trị là nội dung, pháp luật là hình thức biểu hiện của nội dung đó.
  • Nhà nước sử dụng pháp luật như một công cụ hữu hiệu để quản lý xã hội, đồng thời nhà nước cũng phải tuân thủ pháp luật.
  • Pháp luật và các quy phạm xã hội khác (tôn giáo, đạo đức, tập quán) có thể cùng điều chỉnh một hướng, mâu thuẫn hoặc song song tồn tại.

Giới thiệu

Bài giảng này sẽ xem xét mối liên hệ giữa pháp luật và các hiện tượng xã hội khác, bao gồm kinh tế, chính trị, nhà nước và các quy phạm xã hội. Việc nghiên cứu này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về bản chất, đặc tính và quy luật bên trong của pháp luật.

Pháp luật và Kinh tế

Trong mối quan hệ giữa pháp luật và kinh tế, kinh tế đóng vai trò quyết định. Điều này xuất phát từ nguyên nhân ra đời của pháp luật, khi sự phát triển của kinh tế tư hữu dẫn đến phân tầng giai cấp và mâu thuẫn xã hội, pháp luật được sử dụng như một công cụ để điều hòa các mâu thuẫn này. Sự thay đổi của các điều kiện kinh tế là nguyên nhân quyết định sự ra đời của pháp luật, cũng như nội dung, hình thức và cơ cấu của pháp luật. Ví dụ, các kiểu nhà nước khác nhau (chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư sản, xã hội chủ nghĩa) có quan hệ sở hữu và pháp luật khác nhau. Tuy nhiên, pháp luật cũng có tác động ngược lại đến kinh tế, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển kinh tế tùy thuộc vào việc nó có phù hợp với quy luật phát triển của kinh tế hay không.

Pháp luật và Chính trị

Mối quan hệ giữa pháp luật và chính trị là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, trong đó chính trị là nội dung và pháp luật là hình thức biểu hiện. Chính trị là cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực, và pháp luật là công cụ để cụ thể hóa ý chí của nhà cầm quyền. Các mối quan hệ chính trị và chế độ chính trị ảnh hưởng đến nội dung, tính chất và sự phát triển của pháp luật. Pháp luật mang tính giai cấp và là công cụ để giai cấp thống trị bảo vệ quyền lực và phát triển xã hội theo định hướng của mình. Tuy nhiên, pháp luật cũng tác động đến chính trị bằng cách chuyển hóa ý chí của giai cấp thống trị thành quy tắc ứng xử chung, điều chỉnh các quan hệ xã hội theo ý chí của nhà cầm quyền.

Pháp luật và Nhà nước

Nhà nước sử dụng pháp luật như một công cụ hữu hiệu để quản lý xã hội vì pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung. Nhà nước là chủ thể ban hành hoặc thừa nhận pháp luật và phải đảm bảo pháp luật được thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhà nước cũng phải tuân thủ pháp luật để đảm bảo tính công bằng và tránh lạm quyền. Pháp luật không chỉ để củng cố quyền lực nhà nước mà còn để hạn chế quyền lực nhà nước, tránh sự lạm quyền. Các cơ quan nhà nước và nhân viên nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép, khác với công dân được làm những gì pháp luật không cấm.

Pháp luật và các Quy phạm Xã hội

Pháp luật và các quy phạm xã hội (tôn giáo, đạo đức, tập quán) đều là công cụ để điều chỉnh hành vi con người và kiến tạo trật tự xã hội. Pháp luật đóng vai trò quyết định vì là quy tắc ứng xử chung, nhưng các quy phạm xã hội cũng có tác động đến pháp luật. Có ba mối liên hệ giữa pháp luật và quy phạm xã hội: cùng điều chỉnh một hướng (ví dụ: con cái kính trọng cha mẹ), mâu thuẫn nhau (ví dụ: tảo hôn) và song song tồn tại (ví dụ: ăn chay trường). Khi có mâu thuẫn, pháp luật của nhà nước được ưu tiên áp dụng, nhưng nhà nước cũng phải cân nhắc đến các yếu tố đạo đức và tập quán khi ban hành pháp luật.

Summarize any YouTube video in seconds

Get summaries like this one for any video, in your language, with the free Summ app.

Download on the Apple Store
Get it on Google Play

Transcript

YouTube Transcript Generator

0:00 [âm nhạc] Chào các em. Tiếp tục bài giảng thì chúng ta sẽ có một cái phần tiếp theo của pháp luật đó là chúng ta xác định mối liên hệ giữa pháp luật với các hiện tượng xã hội khác. Trong các mối liên hệ của pháp luật với các hiện tượng xã hội khác, hôm nay chúng ta sẽ tiếp cận ở bốn vấn đề. Đó là pháp luật với kinh tế,

0:48 pháp luật với chính trị, pháp luật với nhà nước và pháp luật với các quy phàm xã hội khác. Vấn đề đặt ra là tại sao là chúng ta cần phải nghiên cứu mối quan hệ giữa pháp luật với các hiện tượng xã hội khác. Bởi lẽ các em đã từng nghe người ta nói rằng là hãy cho tôi biết bạn của bạn là ai, tôi sẽ nói cho bạn biết bạn là người như thế nào. Điều đó cho chúng ta nhận thức một cách khách quan rằng là nếu như chúng ta tiếp nhận, chúng ta muốn tìm hiểu một sự vật hiện tượng nào đó thì chúng ta hãy đặt nó vào trong tổng hòa các mối quan hệ. Và khi chúng ta đặt một sự vật hiện tượng vào trong tổng hòa các mối quan hệ thì chúng ta sẽ thấy rõ là cái sự thật hiện tượng đó nó bộc lộ rõ về cái đặc tính của nó, về bản chất của nó, những quy luật bên trong của nó như thế nào, cái cách thức biểu hiện ra những cái quy luật bên trong đó

1:33 ra làm sao. Chính vì lý do đó mà chúng ta cần thiết phải nghiên cứu về mối liên hệ giữa pháp luật với các hiện tượng xã hội khác. Thì đầu tiên thầy muốn các em tập trung để chúng ta vào cái vấn đề giữa pháp luật với kinh tế. Theo cái mối quan hệ giữa pháp luật với kinh tế đó khi nghiên cứu các em cần xác định thứ nhất là trong cái mối quan hệ này yếu tố nào đóng vai trò quyết định. Và khi chúng ta xác định rồi là yếu tố đóng vai trò quyết định các em phải trả lời cho câu hỏi là tại sao yếu tố đó lại đóng vai trò quyết định. Vậy thì cái yếu tố bị quyết định còn lại nó cũng có một câu hỏi tương tự. Tại sao nó bị quyết định? Và nó bị quyết định như vậy nó quyết định một cách thụ động hay là nó có một cái sự tác động ngược lại đối với cái yếu tố quyết định đó. Và như vậy đây là một cái cặp phạm trù hay là đây là một cái mối quan hệ mà trong đó phải có sự

2:21 tương hổ song song giữa hai giữa hai cái vế của mối quan hệ đó. Các em thấy rằng cái tính chất của mối quan hệ về kinh tế và pháp luật thì chúng ta thấy đây là một cái yếu tố của kiến trúc thường tần và cơ sở hạ tầng. Như triết học các em học chúng ta nói rằng nhà nước và pháp luật là hai thành tố của kiến trúc thượng tận và bị quy định bởi cơ sở hạ tần đó là kinh tế. Như vậy trong mối quan hệ này các em đã nhìn nhận ngay một vấn đề đó là yếu tố nào đóng vai trò quyết định. Kinh tế đóng vai trò quyết định và tại sao kinh tế đóng vai trò quyết định chúng ta phải trả lời được câu hỏi đó. Và nếu như chúng ta các em muốn trả lời được câu hỏi này thì các em phải quay về cái nguồn gốc ban đầu ra đời của nhà nước và pháp luật mà cụ thể là pháp luật. Vì sao? Cái thời kỳ đầu khi tất cả đều là của

3:08 chung và sau đó xã hội phát triển dần dần hình thành nên tư hữu dẫn đến có cái sự phân tần phân hóa tài sản trong xã hội, dẫn đến sự phân tần giai cấp, dẫn đến sự mâu thuẫn giai cấp và sự đối kháng giai cấp thì lúc đó pháp luật được sử dụng như một cái công cụ để điều hòa các mâu thuẫn giai cấp đó trên cơ sở tổ chức là nhà nước. Như vậy ngay từ đầu tiên khi ra đời của nó pháp luật đã có một cái vai trò như vậy rồi để điều hòa các mối mâu thuẫn giai cấp. Nhưng mà để có pháp luật thì bởi lẽ kinh tế nó nó thay đổi, bởi lẽ kinh tế nó phát triển mà cần có một cái công cụ để điều hòa điều tiết các mối quan hệ kinh tế này. Do đó cái nguyên nhân làm ra đời của pháp luật chính là kinh tế. Bên cạnh cái nguyên nhân xã hội nó là nguyên nhân kinh tế và vì lẽ đó kinh tế đóng vai trò quyết định đối với pháp luật. Và cái mối

3:55 quan hệ quyết định này thì các em thấy nó thể hiện như thế nào? Thứ nhất là sự thay đổi các điều kiện quan hệ kinh tế chính là nguyên nhân quyết định ra đời của pháp luật như thầy vừa nói đúng không ạ? từ công hữu sang tư hữu, từ một xã hội công bằng, từ một cái xã hội mà tất cả đều là tài sản chung, nó dẫn đến là có cái sự muốn lấy làm tài sản riêng và có một sự xung đột về lợi ích giữa các từng lớp người khác nhau trong xã hội. Chính cái sự xung đột đó mà cần có một cái giải pháp tức là làm sao cho sự xung đột đó nó có xung đột nhưng nó lại xung đột trong một phạm vi, một khuôn khổ nhất định thì cái gì có thể tác động vào đó chính là pháp luật. Pháp luật nó hình thành ra một cái hành lang, một cái khuôn khổ để cho có thể giải quyết được

4:40 những mâu thuẫn đó. Do đó các em sẽ thấy rằng là nguyên nhân quyết định sự ra đời của pháp luật chính là những điều kiện, những cái sự thay đổi của những quan hệ kinh tế. Quyết định sư ra đời của nhà nước cũng là pháp luật luôn. Và bên cạnh đó các điều kiện quan hệ kinh tế nó cũng quyết định đến toàn bộ nội dung hình thức và cơ cấu của pháp luật. Thầy lấy ví dụ như các kiểu nhà nước các em đã đã thấy chúng ta có các kiểu nhà nước sau đây đó là kiểu nhà nước chiếm hữu nô lệ, kiểu nhà nước phong kiến, kiểu nhà nước tư sản và kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa. Trong các kiểu nhà nước đó các em thấy rằng là nội dung và hình thức cơ cấu của kinh tế và pháp luật nó kéo theo cái đó để nó điều chỉnh cái nội dung và hình thức. Thầy chỉ lấy một điều đơn giản thôi đó là quan hệ sở hữu. Quan hệ sở hữu. Và trong cái quan hệ sở hữu lấy

5:25 ví dụ thời kỳ cái kiểu nhà nước đầu tiên đó là kiểu nhà nước chiếm hữu nô lệ. Vậy thì cái quan hệ sở hữu trong thời kỳ này là cái gì? Giai cấp thống trị giữ quyền sở hữu về cái gì? Về tư liệu sản xuất và đặc biệt là về người nô lệ. Chiếm hữu nô lệ tức là có nô lệ để mà chiếm hữu tức là làm tài sản riêng. Như vậy trong thời kỳ này, trong thời kỳ này con người lại trở thành một vật sở hữu nhưng và pháp luật nó phải thể hiện rõ cái điều đó. Ví dụ pháp luật nó quy định rằng là chủ nô có quyền sở hữu nô lệ, chủ nô có quyền tùng xẻo nô lệ, thậm chí bán cho, bán tặng cho là quyền của chủ nô vì đó được xem là vật sở hữu. Ví dụ như từ Ai Cập cổ đại, nô lệ được coi là the tức là cái từ de đó có nghĩa rằng đó là đồ vật. Con người được coi là độ vật và trở thành sở

6:11 hữu, vật sở hữu và cái pháp luật nó phải thể hiện rõ điều đó đúng không ạ? Rồi nó quyết định để cho nó phụng sự cái lợi ích đó. À và đối với cái mối quan hệ tiếp theo các em sẽ thấy rằng là trong cái mối quan hệ giữa pháp luật với kinh tế đó thì cái cơ cấu kinh tế, hệ thống kinh tế nó quyết định đối với cơ cấu và hệ thống pháp luật. Và nói về hệ thống pháp luật thì thầy cũng nhắc lên một một tí đó là hệ thống thông luật Comal System và hệ thống dân luật đó là theo system. Và có một số các quan điểm cho rằng chúng ta còn có thêm hai hệ thống pháp luật khác nữa đó là hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa và hệ thống pháp luật tôn giáo đúng không ạ? Nhưng kệ về cơ bản người ta tiếp cận hai hệ thống pháp luật nhưng cái thuật ngữ hệ thống pháp luật đó có phải là cái thuật ngữ hệ thống pháp luật mà chúng ta đang nghiên

6:56 cứu ở đây không? Câu trả lời là cái hệ thống pháp luật mà chúng ta nghiên cứu ở đây là hệ thống pháp luật của một quốc gia cụ thể. Có nghĩa là trong đó có thể là sử dụng đó là văn bản quy phàm pháp luật, đó là sẽ sử dụng tập quán hay là tiền lệ pháp gì đó. Nhưng cái pháp luật đó đúng không ạ? Nó phải thể hiện nó tương thích với cái cơ cấu kinh tế và hệ thống kinh tế. Nó phải ngang bằng, nó phải tương thích với nhau. Vì sao cái pháp luật nó phải hỗ trợ, nó phải nó nó phải là cái công cụ để cho các cơ cấu kinh tế hoạt động. Đó là các thành phần sở sở hữu được quy định như thế nào? Các thành phần kinh tế nào là chủ đạo? Quyền lực trong kinh tế được thể hiện như thế nào thì nó phải thể hiện rõ điều đó. Pháp luật nó phải thể hiện rõ điều đó. Tiếp theo nữa các em sẽ thấy rằng tính chất nội dung của các quan hệ kinh tế, quan hệ về sở hữu quan hệ kinh tế nó sẽ

7:42 quyết định về tính chất nội dung của quan hệ pháp luật và phạm vi điều chỉnh của pháp luật. Đó đó là quan hệ giữa nhà nước với cá nhân. Quan hệ giữa các thành phần kinh tế mà quyền và nghĩa vụ nó bình đẳng với nhau giữa các thành phần tư nhân. Vậy chúng ta với những cái hình thức sở hữu với những quan hệ kinh tế đó thì pháp luật làm sao nó phải đặt ra được một cái hành lang pháp lý để cho các thành phần kinh tế đó hoạt động trong chính cái khuôn khổ pháp lý mà nhà nước đặt ra. Nếu không nó sẽ làm rối loạn các quá trình kinh tế này. Và nếu không người ta cũng không xác định được rằng là trong cái các thành phần kinh tế đó thành phần kinh tế nào đóng vai trò quyết định và tại sao nó đóng vai trò quyết định. Và người ta cũng trả lời cho câu hỏi rằng cái sự mà đóng vai trò quyết định hay không quyết định đó nó có kéo theo sự bất bình đẳng trong các quan hệ kinh tế không? pháp luật nó sẽ trả lời cho câu đó đúng không ạ? Ví dụ như

8:27 chúng ta nói là nền kinh tế thị trường và nếu chúng ta nói nền kinh tế thị trường thì điều đó có nghĩa rằng là tất cả các thành phần kinh tế đều phải bình đẳng với nhau vì quyền và nghĩa vụ của họ tức là cái thể hiện quyền của họ bình đẳng với nhau và pháp luật phải thể hiện rõ điều đó và kinh tế các thành phần kinh tế phải được vận động theo quy luật thị trường nhưng đối với một số nước là nền kinh tế đó theo quy luật thị trường thị trường nhưng lại định hướng theo xã hội chủ nghĩa tức là như vậy câu hỏi đặt ra ở đây là nhà nước có cần thiết phải tham gia vào quản lý các quá trình kinh tế không? Và nó sẽ có hai quan điểm không và có. Và nếu có vậy thì cái nó dẫn đến một câu hỏi tiếp theo là nếu nhà nước tham gia thì mức độ nhà nước tham gia ở đây như thế nào? Đóng vai trò quyết định hay là chỉ là một cái chất xúc tác hay chỉ là một cái đơn vị hay

9:13 chỉ là một cái tổ chức để quản lý cho cái các thành phần kinh tế đó vào một quy trình nhất định mang tính chất quản lý nhưng mà sẽ không tác động vào cái sự vận động mang tính chất kinh tế của các thành phần kinh tế. Tính chất nội dung của kinh tế nó sẽ quyết định về tính chất nội dung của pháp luật và cái chế độ kinh tế nó cũng quyết định được tổ chức và hoạt động của các thiết chế chính trị pháp lý. Kinh tế đó các thiết kế chế chính trị pháp lý ở đây thì các em có thể hình dung đó là hệ thống các cơ quan hoặc là đó là tòa án, hệ thống tòa án, hệ thống việc kiểm sát, các thiết chế chính trị pháp lý nó đi kèm theo đúng không ạ? Việc tổ chức kinh tế như thế nào, tổ chức xã hội như thế nào, sự vận động như thế nào nó phải kéo theo các thế chí chế chính trị pháp lý. Thì đó là cái đầu tiên, cái vế đầu tiên tức là kinh tế đóng vai trò quyết định đối với pháp luật nhưng pháp luật nó sẽ

9:58 tác động đối với kinh tế. Và khi mà các em nói về sự tác động ngược lại thì các em lưu ý trong cái sự tác động ngược lại đó nó sẽ tác động ở hai chiều hướng, chiều hướng tích cực và chiều hướng tiêu cực. cái tích cực trong cái mối quan hệ này tức là nếu như pháp luật nó phù hợp với cái quy luật phát triển của kinh tế, nó phù hợp với những cái vận động kinh tế đang diễn ra, điều đó có nghĩa rằng pháp luật nó đang tạo ra một cái hành lang tốt cho các quan hệ kinh tế tồn tại và phát triển đúng không ạ? Và chính điều đó nó thúc đẩy kinh tế phát triển. Nhưng nếu giả dụ như pháp luật nó kềm hãm, nó không phù hợp với kinh tế, các quan hệ kinh tế, các tổ chức kinh tế, các thành phần kinh tế như thế này nhưng lại pháp luật nó không thể hiện được rõ vai trò của nó là nó điều chỉnh, tức là nó không rõ về vấn đề sở hữu, nó không

10:43 rõ về vấn đề vai trò chủ đạo của nền kinh tế thì điều đó làm cho các thành phần kinh tế có thể trở nên rối loạn đúng không ạ? Và thậm chí nó làm kềm hãm các quá trình kinh tế đang phát triển. Đó, đó là cái mà cái sự tác động ngược lại cái pháp luật. Pháp luật nó rất quan trọng như vậy. Đó là mối quan hệ thứ nhất. Mối quan hệ thứ hai là mối quan hệ giữa pháp luật với chính trị. Giữa mối quan hệ giữa pháp luật với chính trị thì các em thấy đây là một mối quan hệ giữa hai thành tố trong kiến trúc thường tần. Và một cái nữa mà các em cần lưu ý đây là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức. Vậy thì vấn đề đặt ra là các em phải xác định yếu tố nào là nội dung và yếu tố nào đóng vai trò là hình thức. đúng không ạ? Thì trong mối quan hệ này cái yếu tố nội dung chính là chính trị.

11:30 Vậy chính trị là gì các em? Một cái thuật ngữ mà chúng ta nghe rất là thường xuyên. Chính trị là gì? Chính trị là cách thức hay phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực. Hay nói một cách hơn chính trị, tức là người ta nói một cách bình dân hơn chính trị là những cái thủ đoạn để tổ chức và thực hiện quyền lực. Đây là những cái phương thức. Nhưng quyền lực là gì? Quyền là khả năng áp đặt và sai khiến. Lực là buộc người khác tuân thủ theo mình. Như vậy để có một cái quyền lực chính trị đó đúng không ạ? Thì trong trường hợp này cái gì? Cái công cụ nào để đưa ra cho mọi người phải tuân thuộc cái quyền lực của tôi và để đảm bảo cho cái quyền lực của tôi được thực hiện đó chính là pháp luật. Vậy thì tất cả những cái ý chí của tôi hay nói cách khác của nhà cầm quyền đều phải được cụ thể trong pháp luật. Do đó ý chí

12:17 của nhà cầm quyền hay chính trị được xem là nội dung và pháp luật là cái hình thức biểu hiện ra bên ngoài của ý chí đó. Và các em thấy rằng sự tác động của chính trị đối với pháp luật nó thể hiện ở chỗ các mối quan hệ chính trị, các chế độ chính trị ảnh hưởng đến nội dung tính chất và sự phát triển của pháp luật. Pháp luật nó phải thể hiện trước vì chúng ta học về bản chất các em thấy rõ đúng không ạ? Pháp luật nó mang tính giai cấp. Như vậy cái giai cấp này nó liên quan đến chính trị tức là một cái giai cấp thống trị giữ nguyệt lực chi phối cho toàn bộ đời sống xã hội. Và cái pháp luật nó phải là cái công cụ để thể hiện rõ điều này. Nó phải là cái công cụ để giai cấp thống trị nó có thể sử dụng đúng không ạ? Để bảo vệ quyền lực cho mình và để phát triển các quan hệ xã hội theo một cái định hướng một cái trật tự

13:02 nhất định. Đó thì như vậy trong cái mối quan hệ này các em thấy được rằng chính trị đóng vai trò là nội dung và pháp luật nó phải là hình thức biểu hiện. Và nhưng mà pháp luật nó không đóng vai trò một cách thụ động mà bản thân pháp luật ấy nó sẽ tác động đối với chính trị. Nó tác động như thế nào? Pháp luật là hình thức biểu hiện thể hiện của ý chí. Các em thấy như vậy. Tức là ý chí của giai cấp thống trị thì nó phải thể hiện ra thành những quy tắc ứng xử mang tính chất bắt buộc chung. Và đây cũng là một cái công cụ để chuyển hóa ý chí của giai cấp thống trị thành một cái quy tắc ứng xử chung có tính bắt buộc đối với vội cười. Nó không bắt buộc đối một giai tần nhất định. đúng không ạ? Và những cái quan hệ xã hội nó điều chỉnh đó, quan hệ xã hội điều chỉnh cũng theo ý chí của nhà cầm quyền, ý chí của giai cấp thống

13:47 trị nó phải thể hiện được điều đó. Do đó các em không lấy làm lạ tại sao pháp luật của đất đất nước này của một cái hệ thống pháp luật của một nhà nước này nó lại khác hệ thống pháp luật của một nhà nước khác khi chúng ta tiến hành so sánh vì đó là nó sự khác nhau về yếu tố chính trị và do đó pháp luật nó cũng không thể áp đặt được. Pháp luật nó không thể áp đặt cho một nhà nước này với một nhà nước khác được. Pháp luật quốc tế nó sẽ có những cái chuẩn mực chung của quốc tế. Nhưng trong từng hệ thống pháp luật quốc gia các em sẽ thấy rằng có sự khác biệt rất lớn giữa các quốc gia vì nó liên quan đến chính trị. Và cái câu chuyện tiếp theo của mình là gì? Đó là mối quan hệ giữa pháp luật với nhà nước. Trong cái mối quan hệ giữa pháp luật với nhà nước này, đó là mối quan hệ giữa hai yếu tố thuộc kiến trúc thường tần. Và đây là cái công cụ quản lý xã hội rất quan trọng. Nhà nước tổ chức quản lý xã hội nhưng nhà

14:33 nước tổ chức bằng cái gì? Nhà nước nói hay nhà nước đưa ra những cái văn bản hay nhà nước đưa ra những vi phạm mà mọi người phải tuân thủ theo hay là đưa ra những chính sách những đường lối cái nào và việc lựa chọn ở đây đó là pháp luật là công cụ quản lý hữu hiệu nhất ở đây người ta sử dụng cái thuật ngữ các em ạ là nhà nước sử dụng pháp luật như một công cựu hữu hiệu nhất để quản lý xã hội. Công cựu hữu hiệu nhất chứ không phải là duy nhất. Có nghĩa là bên cạnh pháp luật, nhà nước còn có chính sách hoặc có những cái hình thức khác để tác động vào việc quản lý xã hội. Nhưng về cơ bản là nhà nước phải sử dụng quốc pháp luật. Tại sao các em? Tại sao? Vì bởi lẽ chúng ta khi nghiên cứu về khái niệm các em thấy rằng pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung. Và chính cái bắt buộc chung đó mà nhà nước sử dụng như một công cụ

15:20 cơ bản nhất để quản lý xã hội. Trong cái mối liên hệ này, các em hãy hình dung được là nhà nước là chủ thể ban hành hoặc thừa nhận pháp luật. Và nhà nước đặc biệt khi ban hành ra pháp luật đó thì nhà nước phải làm sao đó cho cái pháp luật được thực hiện. Trên thực tế ở đây nó có một vấn đề thực tiễn là dầu rằng nhà nước có ban hành ra 100 1000 văn bản đi nữa mà cái văn bản đó cái pháp luật đó nó không được áp dụng trong thời đời sống thực tiễn pháp luật đó vô nghĩa. Pháp luật nó phải mang được hơi thở của cuộc sống pháp luật nó phải mang được giá trị của thực tiễn nó phải điều chỉnh được những quan hệ xã hội thực tiễn đúng không ạ? Do đó là khi mà áp dụng trên đời sống thực tiiện đó thì nhà nước phải đảm bảo chứ nhất là nhà nước ban hành trong quy tắc ứng xử. Nhà nước

16:05 phải đảm bảo cho nó được thực hiện và thực hiện theo đúng cái ý chí nhà nước đã ban hành đúng không ạ? Do đó là cái việc đảm bảo của nhà nước rất quan trọng và nhà nước đảm bảo bằng hình thức nào? Nhà nước có thể thuyết phục, nhà nước có thể cưỡng chế bằng những biện pháp kinh tế, chính trị, tư tưởng, nhà nước có thể đảm bảo cho những cái quy tắc hành xử mà mình đã ban hành hoặc thừa nhận đó nó phải đảm đảm bảo thực hiện đúng không ạ? Để cho mọi người đều phải tuân thủ theo cái quy tắc đó. Nhưng vấn đề tiếp theo là nhà nước bảo đảm thực hiện đó, nhà nước có tôn trọng nhà nước có phải thực hiện không? Hay là nhà nước lại lấy một lý do rằng tôi là chủ thể ban hành cho nó, do đó tôi không cần thiết phải thực hiện đúng không ạ? Vậy nhà nước không thực hiện. Vậy thì vấn đề đặt ra là nhà nước quản lý ai đúng không ạ? Nhà nước ở

16:52 đây được thể hiện thông qua hệ thống các cơ quan nhà nước và nhân viên nhà nước. Anh ban hành quy tắc ứng xử của hành vi mà anh lại không thực hiện theo quy tắc ứng xử hành vi đó. Vậy người nào sẽ tuân thủ? Đúng không ạ? Do đó nhà nước phải tuân thủ theo pháp luật. Và đây là một cái yếu tố tiên quyết để cho pháp luật đó nó không có sự phân biệt giữa chủ thể này với chủ thể khác. Và đây là một cái tinh thần rất là quan trọng mà các em đã từng nghiên cứu trong phần nhà nước đó là pháp quyền. Pháp quyền là đề cao vai trò tối thượng của pháp luật. Trong đó các chủ thể phải tuân thủ theo pháp luật một cách nghiêm minh, triệt để và chính xác. Pháp luật đó phải thể hiện được sự dân chủ đúng không ạ? Vậy thì vấn đề đặt ra ở đây nhà nước thực hiện quyền lực và nhà nước phải tôn trọng pháp luật. Và chính cái pháp luật mà các em thấy ở pháp quyền đó là pháp luật ở đây nó có

17:37 hai vấn đề đặt ra và các em phải tư duy. Thứ nhất là pháp luật để củng cố quyền lực nhà nước hay pháp luật để hạn chế quyền lực nhà nước. Một cái ngạn ngữ của Nghĩa Úc nói rằng là power corrupts absolute mà absolute power corrupts absolutely. Tức là quyền lực làm cho con người ta hư hỏng mà quyền lực tuyệt đối làm cho con người ta hư hỏng tuyệt đối. Người có quyền sẽ dẫn đến làm quyền. Như vậy cái gì giới hạn lại sự làm quyền chính là pháp luật. Vậy pháp luật ban hành ra không phải là chỉ riêng để bảo vệ lợi ích sơ dây cấp thống trị mà nó còn một cái một cái ý nghĩa quan trọng hơn nữa, một ý nghĩa nhân văn hơn nữa đó là gì? Để tránh được sự làm quyền. Do đó các em thấy rằng tất cả các chủ thể là cơ quan nhà nước hay nhân viên nhà nước họ thực hiện theo một cái quy tắc nhất định tức là cái thẩm quyền được trao cho. Và chúng ta thường nghe câu nói rằng cá nhân hay công dân được làm những

18:23 gì pháp luật cho phép hay là làm những gì pháp luật không cấm. Chúng ta sẽ chọn vế nào? Và chắc chắn ở đây các em sẽ chọn cái vế là làm những gì pháp luật không cấm đúng không ạ? Vì cái nội hàm của nó sẽ rộng hơn. Nhưng đối với nhà nước, cơ quan nhà nước hoặc nhân viên nhà nước sẽ làm những gì pháp luật không cấm hay làm những gì pháp luật cho phép thì câu trả lời là chỉ được làm những gì pháp luật cho phép. Hay nói cách khác ở đây là trách nhiệm của họ và giới hạn về mặt thẩm quyền để tránh cái sự lạp quyền. Do đó thể hiện một ý chí là nhà nước phải tôn trọng pháp luật. Cái mối quan hệ cuối cùng mà thầy cần đề cập đó là pháp luật với các vi phạm xã hội. Trong pháp luật với các vi phạm xã hội thì chúng ta cần thiết phải xác định quy phạm xã hội ở đây chúng ta giới hạn là những vi phạm nào? Đó là quy phạm tôn giáo, quy phạm đạo đức hay là các vi phạm tập quán. Và trong đó các em đều thấy được rằng là tất cả các vi phạm này

19:11 cả pháp luật và các vi phạm xã hội đều là cái công cụ để điều chỉnh hành vi. Con người bị tác động bởi rất nhiều các vi phạm đúng không ạ? Có những cái mà do pháp luật quy định nhưng có những cái do cộng đồng hoặc là do cái truyền thống nó đã xác lập như vậy rồi và chúng ta phải tuân thủ đó. Và như vậy cả vi phàm xã hội lẫn pháp luật đều là nó kiến trạ kiến tạo lên trật tự chung của xã hội. Và trong cái mối quan hệ này các em sẽ thấy một điều là yếu tố nào đóng vai trò quyết định thì chắc chắn đó là pháp luật vì đó là quy tắc ứng xử chung. Nhưng điều đó có cho chúng ta nói rằng là những cái vi phạm còn lại nó mang tính chất thụ động không? Pháp luật nói chung là như vậy nhưng bản thân pháp luật thể hiện trong nó có rất là nhiều quy phạm đạo đức, tập quán hay tôn giáo nó đã được cụ thể hóa trong pháp luật rồi. Nếu nó phù hợp với cái sự vận động phát

19:56 triển của xã hội, nó phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị. Và ở đây nó có sự tương tác, tức là trong mối quan hệ này các em lưu ý về ba mối liên hệ. Thứ nhất là quy phạm pháp luật và quy phạm xã hội cùng điều chỉnh một hướng. Thầy lấy ví dụ con cái phải có nghĩa vụ kính trọng, yêu thương ông bà, cha mẹ. Điều đó đạo đức của người Việt Nam là như vậy, là truyền thống như vậy nhưng pháp luật nó cũng có quy định thì cái này nó cũng điều chỉnh một hướng. Nhưng có thể giữa quy phạm pháp luật và quy phạm xã hội nó sẽ mâu thuẫn nhau. Thầy lấy ví dụ như trường hợp mà chúng ta đặt ra đó là tảo hôn. Pháp luật nhà nước quy định phải kết hôn đúng độ tuổi quy định đó là nữ từ đủ độ tuổi 18, nam từ đủ độ tuổi 20 trở lên đúng không ạ? Nhưng mà vẫn có những cái tộc người mà họ lại kết hôn dưới độ tuổi đó trong trường hợp này. Nhưng cái quan niệm của những cái người đó họ không coi là tảo hôn của đồng bào

20:41 dân tộc sử số họ không coi là tảo hôn mà họ vẫn coi là kết hôn. Như vậy trong trường hợp này cái mâu thuẫn nhau và mâu thuẫn nhau như vậy thì cái ưu tiên được áp dụng đó là pháp luật của nhà nước. Nhưng mà nhà nước khi ban hành ra pháp luật cũng phải cân nhắc đến những cái yếu tố khác. Thầy lấy ví dụ đạo đức ví dụ bộ luật hình sự năm 1985 có quy định rằng là tội tố giác tội phạm. Tức là nếu mà ai phát hiện ra tội phạm thì phải tố giác tội phạm. Nhưng vấn đề đặt ra là nếu như cái người mà phát hiện ra ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cái mình là tội phạm thì họ có tố giác không? Tố giác không các em? Đa phần câu trả lời có thể là không. Vì bởi lẽ họ bị một cái đạo đức chi phối. Tôi không thể tố giác mẹ tôi được. Tôi không thể tố giác con tôi được. Đạo đức chi phối. Như vậy nhà nước phải xem xét lại điều đó có hợp lý không? Có phù hợp với thực trạng xã hội không? Và sau đó pháp luật nó thay đổi các em sẽ đã thấy rồi đó. Tức là nó giới hạn lại những đối tượng sau đây mà không

21:27 tố giác tội phạm thì cũng không phải coi được là tội phạm. Tức là trong trường hợp này đạo pháp luật nhường bước một tí cho đạo đức chứ không phải lúc nào nó cũng bắt buộc phải tuân thủ theo. Đó là cái tác động thứ hai mâu thuẫn nhau. Và cái chiều hướng cuối cùng đó là giữa pháp luật và quy phạm xã hội cùng song song tồn tại. Thầy lấy ví dụ một nhà sư theo phái Đại thừa tức là ăn chai trường. Như vậy pháp luật có quy định rằng là họ phải ăn chai trường không? Không. Pháp luật có cắm họ ăn chai trường không? Ví dụ tín đồ ví dụ như là cái người theo đạo Công giáo và họ đi lễ nhà thờ pháp luật có cắm không? Pháp luật có cho phép không? Câu trả lời là không. Có nghĩa rằng đây là những quy định của pháp luật nó tồn tại ở đây và những quy định của các quy phạm xã hội khác nó cũng song song tồn tại. Nhưng trong trường hợp này nó không mâu thuẫn nhau và nó cũng không chống đối với nhau và nó cùng song song kiến tạo những trật tự xã hội. Đây là mối quan hệ thứ tư.

22:15 Vậy thì tóm lại trong các mối liên hệ giữa pháp luật với các hiện tượng xã hội khác, các em đã tiếp cận được bốn mối liên hệ pháp luật với kinh tế, pháp luật với chính trị, pháp luật với nhà nước và pháp luật với các vi phạm xã hội khác. Trong cái việc mà nghiên cứu như thế này thì trước tiên các em phải xác định được cái mối liên hệ. Thứ hai là các em phải xác định được yếu tố nào đóng vai trò là quyết định và yếu tố nào đóng vai trò là bị quyết định tức là chi phối. Và cái vấn đề thứ ba là trong cái yếu tố bị quyết định đó nó tác động lại yếu tố được quyết định như thế nào, quyết định nó như thế nào và nó tác động theo hai chiều hướng tích cực và tiêu cực. Các em hình dung được vấn đề đúng không ạ? Thì đó là cái phần thầy muốn trình bày các em về các mối liên hệ giữa pháp luật với các hiện tượng xã hội khác. Và đó là cái bài trong nội dung hôm nay. Xin cảm ơn

23:00 các em. H

Share

YouTube Video Summaries