Bài bản chất nhà nước _ TIET 5 _ HCMULAW

Tóm tắt nhanh

Video này thảo luận về vị trí và vai trò của nhà nước trong xã hội, cách nhà nước tác động đến các thiết chế và tổ chức khác, và mối quan hệ giữa nhà nước với kinh tế và pháp luật. Bài giảng đi sâu vào các mối quan hệ cơ bản của nhà nước, bao gồm:

  • Mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội có giai cấp.
  • Mối quan hệ giữa nhà nước và cơ sở kinh tế.
  • Mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật.
  • Mối quan hệ giữa nhà nước và các thiết chế khác trong hệ thống chính trị.

Giới thiệu

Bài giảng này tiếp tục tìm hiểu về bản chất nhà nước, tập trung vào vị trí và vai trò của nhà nước trong xã hội, cũng như mối quan hệ của nó với các thiết chế, tổ chức khác, kinh tế và pháp luật. Theo quan điểm biện chứng, nhà nước không tồn tại biệt lập mà luôn tương tác với các yếu tố khác, làm rõ hơn bản chất của nó.

Nhà nước và xã hội có giai cấp

Nhà nước và xã hội có giai cấp vừa thống nhất vừa khác biệt. Sự thống nhất thể hiện ở chỗ nhà nước chỉ xuất hiện, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp. Nhà nước là nhu cầu tất yếu khách quan để duy trì trật tự xã hội theo mong muốn của giai cấp cầm quyền. Tuy nhiên, xã hội có giai cấp đóng vai trò quyết định đối với nhà nước, và sự thay đổi trong xã hội dẫn đến sự thay đổi trong chức năng và bộ máy nhà nước. Ngược lại, nhà nước cũng tác động đến xã hội, có thể tích cực hoặc tiêu cực, ví dụ như sự thay đổi chính phủ hoặc chính sách. Vai trò của nhà nước là tổ chức, điều hành, quản lý xã hội, làm dịu xung đột giữa các giai cấp, và đưa ra các chính sách, văn bản pháp luật.

Nhà nước và cơ sở kinh tế

Mối quan hệ giữa nhà nước và cơ sở kinh tế là mối quan hệ giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng. Nhà nước phụ thuộc vào cơ sở kinh tế và tác động ngược lại theo hai chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực. Cơ sở kinh tế quyết định sự ra đời của nhà nước, việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Sự thay đổi của kinh tế dẫn đến sự thay đổi của nhà nước. Nhà nước tác động đến cơ sở kinh tế thông qua các chính sách kinh tế phù hợp, thúc đẩy sự phát triển kinh tế ổn định. Tuy nhiên, chính sách không phù hợp có thể kìm hãm sự phát triển kinh tế xã hội.

Nhà nước và các thiết chế khác của hệ thống chính trị

Nhà nước là một thiết chế trong hệ thống chính trị, bao gồm các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội và nhà nước. Nhà nước có vai trò quan trọng đối với sự hình thành và hoạt động của các thiết chế khác, và là chủ thể quan trọng để vận hành hệ thống chính trị. Nhà nước giữ vị trí trung tâm trong hệ thống chính trị nhờ quyền lực công cộng đặc biệt, quyền thuế và quyền đặt ra pháp luật. Tuy nhiên, các thiết chế khác cũng tác động trở lại nhà nước, hỗ trợ hoạt động của nhà nước và phản biện, phê phán chính sách của nhà nước.

Nhà nước và pháp luật

Nhà nước và pháp luật là hai yếu tố thuộc về kiến trúc thượng tầng và tác động qua lại lẫn nhau. Trong xã hội có nhà nước, chỉ có nhà nước mới có quyền ban hành ra pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật. Nhà nước chỉ đạo quá trình xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và đảm bảo cho pháp luật được thực hiện. Nhà nước phải tuân thủ pháp luật và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Sự tuân thủ pháp luật không chỉ về phía nhà nước mà còn là sự tuân thủ phía các chủ thể khác trong xã hội.

Kết luận

Bài giảng đã giới thiệu một số mối liên hệ cơ bản của nhà nước trong xã hội, thể hiện bản chất, vị trí và vai trò của nhà nước. Thông qua những mối liên hệ này, chúng ta có thể hiểu sâu sắc hơn về nhà nước và vấn đề về bản chất nhà nước.

Summarize any YouTube video in seconds

Get summaries like this one for any video, in your language, with the free Summ app.

Download on the Apple Store
Get it on Google Play

Transcript

YouTube Transcript Generator

0:26 [âm nhạc] À chào các em. Hôm nay chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu nốt một phần cuối cùng à trong bài bản chất nhà nước. Những cái buổi tiết học trước chúng ta đã nghiên cứu về bản chất nhà nước, khái niệm nhà nước à và chúng ta cũng chỉ ra được những dấu hiệu đặc trưng riêng có của nhà nước so với những cái tổ chức khác

1:12 trong xã hội có nhà nước cũng như là đối với xã hội cộng sản nguyên thủy trước kia. Vậy thì khi mà nhà nước ra đời với tư cách là cái chủ thể quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội để nhằm duy trì cái trật tự xã hội chung cũng như để bảo vệ và củng cố cái lợi ích của giai cấp cầm quyền. Vậy thì trong xã hội thì nhà nước có cái vị trí, cái vai trò như thế nào? Nó tác động tới các thiết chế, các tổ chức khác trong xã hội ra sao? Và trong mối quan hệ giữa nhà nước với kinh tế hay với các hiện tượng khác ví dụ với pháp luật thì nó thể hiện như thế nào? Theo quan điểm biện chứng thì bất kỳ một sự vật hiện tượng nào á thì nó không tồn tại trong cái sự biệt lập mà nó luôn luôn có cái sự tác động qua lại với các sự vật hiện tượng khác và thông qua đó

1:59 thì bản chất của sự vật hiện tượng nó được thể hiện một cách rõ nét hơn. Vậy thì nhà nước là một hiện tượng. Chúng ta muốn tìm hiểu sâu hơn về bản chất nhà nước thì chúng ta cũng tìm hiểu nó thông qua các mối quan hệ của nó. Vậy thì nhà nước có rất nhiều các mối quan hệ khác nhau và ở đây cô sẽ giới thiệu một số những cái mối quan hệ cơ bản của nhà nước. Thứ nhất là mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội có giai cấp. Thứ hai là mối quan hệ giữa nhà nước với cơ sở kinh tế. Thứ ba là mối quan hệ giữa nhà nước với pháp luật. và thứ tư là nhà nước với các thiết chế khác trong hệ thống chính trị. Thông qua các mối quan hệ này thì cái vị trí, cái vai trò của nhà nước trong xã hội nó sẽ được bộc lộ một cách rõ nét hơn. Nó vậy thì cái mối liên hệ

2:44 đầu tiên đó là nhà nước với xã hội có giai cấp. Khi chúng ta xem xét về cái mối liên hệ giữa nhà nước và xã hội có giai cấp sẽ có hai vấn đề. Thứ nhất, chúng ta thấy rằng là nhà nước và xã hội có giai cấp là hai hiện tượng mà nó vừa có sự thống nhất nhưng nó cũng có cái sự khác biệt. Vậy thì cái sự thống nhất giữa nhà nước hay cái sự khác biệt giữa nhà nước với xã hội có giai cấp nó được thể hiện như thế nào? Vậy thì trước hết xã hội có giai cấp là xã hội có cái đặc điểm nào? Xã hội có giai cấp là xã hội có các giai cấp, các tầng lớp khác nhau cùng tồn tại và giữa những giai cấp này nó có sự khác biệt về quyền lợi kinh tế. Vì thế chúng mới gì? thường xuyên đấu tranh mâu thuẫn với nhau. Ví dụ trong lịch sử chúng ta có giai đ cấp lô lệ, chúng ta có giai cấp nông

3:30 dân, chúng ta có giai cấp quý tộc à quý tộc thị tộc bộ lạc vân vân. Như vậy trong xã hội nó tồn tại rất rất nhiều những cái giai cấp những cái tầng lớp. Vậy thì giữa cái nhà nước và xã hội có nhiều giai cấp những tầng lớp như vậy. Chúng thống nhất với nhau ở điểm nào và khác nhau ở điểm nào? Thứ nhất, cái sự thống nhất của nhà nước và xã hội có giai cấp nó thể ở chỗ là nhà nước chỉ xuất hiện, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp mà thôi. Điều này chúng ta được chứng minh ngay từ bài học đầu tiên của môn học về bản nguồn gốc nhà nước đúng không ạ? Nhà nước chỉ ra đời và tồn tại khi và chỉ khi xã hội đã xuất hiện giai cấp và phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng nhau. Khi cái mâu thuẫn giai cấp đến mức gay gắt

4:15 không thể điều hòa được thì nhà nước ra đời. Như vậy nhà nước bao giờ cũng gắn liền với gì? Với xã hội, với giai cấp. Cái thứ hai nữa là khi mà trong xã hội có các giai cấp khác nhau để cho cái xã hội đó nó ổn định, nó phát triển trong một cái trật tự theo mong muốn của giai cấp cầm quyền. hoặc là giữ cho nó trong một cái phòng trật tự nhất định thì xã hội đó cần phải có nhà nước và nhà nước là một cái nhu cầu tất yếu khách quan mà xã hội cần phải có. Vì vậy xã hội có giai cấp không thể tồn tại nếu như thiếu nhà nước. Tuy nhiên giữa cái nhà nước và xã hội nó cũng có cái sự khác biệt. Vậy thì cái sự khác biệt của nhà nước và xã hội nó thể hiện ở chỗ nào? Thứ nhất ấy là xã hội có giai cấp sẽ giữ vai trò quyết định đối với nhà nước. Khi mà xã

5:02 hội thay đổi thì dẫn tới nhà nước cũng sẽ phải có cái sự thay đổi mà cụ thể đây đấy chính là chức năng bộ máy nhà nước sẽ phải có cái sự thay đổi tương ứng. Điều này các em có thể chứng minh rất rõ ở ngay trong tổ chức của bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. À ví dụ vấn đề về môi trường, vấn đề về khủng bố, vấn đề về toàn cầu hóa. Nó đòi hỏi là bản thân mỗi nhà nước muốn thích nghi được thì nhà nước phải có cái sự thay đổi à phải có sự thay đổi. Ví dụ như sự hình thành của cái nhà nước khủng bố, người ta gọi là nhà nước khủng bố, nhà nước Hồi giáo tự xưng IS hiện nay nó đặt các quốc gia vào cái tình trạng là làm thế nào để có thể giải quyết được vấn đề này, làm thế nào để chống lại cái sự cái tư tưởng cực đoan, làm thế nào để chống lại cái sự khủng bố mà nó mang lại rất

5:49 là nhiều những cái gọi là thảm họa, những cái thiệt hại cho xã hội đòi hỏi mỗi nhà nước phải có cái sự thay đổi thích ứng cho phù hợp. Một cái vấn đề tiếp theo đó là gì? là mặc dù xã hội có giai cấp có vai trò quyết định đối với nhà nước nhưng mà ngược lại thì nhà nước cũng sẽ có sự tác động đối với xã hội đó và sự tác động này nó có thể là mang tính chất tích cực. Ví dụ như là sự thay đổi chính phủ ở một nhà nước nó cũng có thể có sự tác động đến xã hội biểu tình ở Thái Lan. Và năm 2004 khi cựu Thủ tướng Thái Lan thạc xỉn bị lật đổ bằng một cuộc bảo đảo chính thì diễn biến tiếp theo là gì? Đấy là sự bất ổn về mặt chính trị. Hàng loạt các cuộc biểu tình giữa phe chống đối và phe ủng hộ đã diễn ra. Và điều đó nó dẫn tới là gì? Cái xã

6:34 hội Thái Lan nó không thể ổn định, nó không thể phát triển được. À nó không thể phát triển và nó ảnh hưởng rất nhiều đến các lĩnh vực khác nhau mà cụ thể cái sự ảnh hưởng lớn nhất đấy chính là về du lịch. Khi Thái Lan được đánh giá là một quốc gia mà có cái sự phát triển rất lớn về du lịch. Vậy thì khi mà môi trường chính trị không ổn định thì đương nhiên là những cái người dân, những người ở các quốc gia khác họ muốn đến du lịch ở Việt Nam họ cũng cần phải suy nghĩ rất là nhiều. Hoặc là khi mà một cái chính đảng lên cầm quyền thì nó cũng sẽ dẫn tới cái sự thay đổi cái chính sách. Ví dụ từ năm 2000 đến năm 2008 là dưới thời cầm quyền của tổng thống Mỹ Jerbúạ. Vậy thì cái chính sách của tổng thống Jóc bút của đảng Cộng hòa so với cái chính sách của tổng thống Barack Obama của đảng Dân chủ nó cũng có cái sự thay đổi

7:19 cụ thể đây đấy chính là sự thay đổi về chính sách đối ngoại à đối ngoại. Nếu như dưới thời của tổng thống Jerút thì trong cái cuộc chiến chống khủng bố ở bên ngoài lãnh thổ nước Mỹ và ngay trong bản thân nước Mỹ thì tổng thống Jócot sử dụng rất nhiều những cái cụm từ mang tính chất đao to búa lớn à cuộc gọi là cuộc chiến chống khủng bố mang toàn cầu nhưng mà cái hiệu quả của nó không mang lại kết quả như mong muốn với cái việc là mang quân ra nước ngoài tham chiến một cách trực tiếp nhưng khi năm 2008 ông Barack Obama lên cầm quyền thì cái chính sách của tổng thống đã có cái sự thay đổi chuyển từ gọi là gì? Chính sách đơn phương sang chính sách đa phương. Tức là gì? Lôi kéo cái sự tham gia của nhiều các nước đồng minh tham gia vào cái cuộc chiến chống khủng bố. Và cái

8:04 việc sử dụng cái những cái phương tiện chiến tranh nó cũng có sự thay đổi. Từ năm 2008 đến năm 2011, chính quyền Obama đã thực hiện ít nhất là 239 vụ tấn công bí mật bằng máy bay không người lái, nhiều hơn với con số 44 lần trong dưới thời của tổng thống Jerbú. Và người ta chứng minh rằng là cái hiệu quả nó sẽ khác hẳn so với cái thời kỳ trước đó, cái việc là sử dụng mang quân ra trực tiếp tham chiến ở nước ngoài. Vậy thì cụ thể là cái vai trò của nhà nước đối với xã hội như thế nào? À nào? Cái thứ nhất là người ta có thể nhận thấy rằng là gì? là nhà nước sẽ có cái vai trò mà tổ chức điều hành, quản lý xã hội và thậm chí nhà nước còn có cái vai trò làm dịu đi những cái xung đột giữa các giai cấp, các tầng lớp khác trong xã hội để giữ nó

8:49 trong một cái vòng trật tự, ít nhất là trong một cái vòng trật tự mà giai cấp cầm quyền mong muốn. Cái thứ hai là nhà nước đưa ra những cái chính sách, những chủ trương các văn bản pháp luật trong những giai đoạn lịch sử khác nhau và tổ chức thực hiện chúng. Và cái vai trò của nhà nước trong những thời kỳ lịch sử nó cũng có cái sự thay đổi. À ví dụ như các anh chị thấy ở Việt Nam là gì? Không hẳn rằng là cái chính sách của nhà nước trong cái thời kỳ bao cấp trước năm 1986. Chúng ta lấy mốc năm 1986 là thời kỳ là cái đại hội đảng toàn quốc lần thứ sáu của thời kỳ đổi mới sau này á. Thì các anh chị rằng là cái chính sách đó nó cũng có cái sự khác so với cái chính sách sau này khi mà chúng ta đã có cái sự thay đổi cả về kinh tế, cả về chính trị. Mà trong lĩnh vực kinh tế chúng ta sẽ thấy cái sự

9:35 thay đổi lớn nhất đấy là sự thừa nhận, sự đa dạng của các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu. Và điều này nó sẽ thúc đẩy cho cái xã hội phát triển à cái nền kinh tế phát triển khởi sắc. Như các anh chị các bạn thấy hiện nay khi mà đề cập tới vai trò của nhà nước thì một trong những cái học giả rất là tiêu biểu của nhà nước tư sản trong một kế luận van Levitan năm 1651 thì ông ấy nói rằng là gì? Cuộc sống và không có một nhà nước có hiệu lực để duy trì thì cái nhà nước đó rất là đơn độc, rất là nghèo nàn, đồi bại, tàn bạo và ngắn gủi. Như vậy cái vai trò của nhà nước trong bất kỳ một cái xã hội nào nó cũng đều rất là quan trọng. đấy là cái mối quan hệ thứ nhất giữa nhà nước và xã hội có giai cấp. Nó có cái sự tác động qua lại lẫn nhau. Một cái mối quan hệ thứ hai mà chúng ta cần xem xét ở đây đấy chính là

10:22 mối quan hệ giữa nhà nước với cơ sở kinh tế. Mối quan hệ giữa nhà nước với cơ sở kinh tế đây là mối quan hệ giữa một yếu tố thuộc về kiến trúc thượng tầng và một yếu tố thuộc về cơ sở hạ tầng. Vậy thì trong mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng thì cơ sở hạ tầng bao giờ cũng giữ vai trò quyết định đối với kiến trúc thượng tầng và kiến trúc thượng tầng sẽ có sự tác động ngược trở lại đối với cơ sở hạ tầng. À vậy thì nhà nước với cơ sở kinh tế nó chính là cái mối quan hệ giữa một yếu tố thuộc về kiến trúc thượng tầng pháp lý và một yếu tố thuộc về cơ sở hạ tầng. Vậy thì trong mối quan hệ này á, nhà nước sẽ phụ thuộc vào cơ sở kinh tế và nhà nước cũng sẽ có sự tác động ngược trở lại đối với cơ sở kinh tế theo hai chiều hướng tích cực hoặc là là tiêu cực. Vậy thì thứ nhất là

11:09 sự phụ thuộc của nhà nước vào cơ sở kinh tế ạ. Sự phụ thuộc của nhà nước và cơ sở kinh tế nó được thể hiện ở một số những khía cạnh. Thứ nhất đó là gì? Cơ sở kinh tế quyết định sự ra đời của nhà nước. Điều này chúng ta đã được chứng minh ngay từ bài đầu tiên của môn học về nguồn gốc sự ra đời của nhà nước. À sự xuất hiện của chế độ tư hữu dẫn đợi sự phân chia xã hội thành các giai cấp và khi các giai cấp này gay gắt đến mức không thể điều hòa được thì nhà nước ra đời. À cái thứ hai nữa là cái cơ sở kinh tế sẽ quyết định đến việc tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước. Khi cơ sở kinh tế thay đổi thì nó đòi hỏi là cái bộ máy nhà nước cũng phải có cái sự thay đổi cho tương ứng. Và điều chúng ta có thể nhận thấy rõ nét nhất trong xã hội Việt Nam đấy chính là sự thành lập, cái

11:55 sự thay đổi của cái cơ cấu về của các thiết chế chính trị pháp lý, đặc biệt là hệ thống tòa án. Hiện nay trong cái cơ cấu tổ chức tòa án ở Việt Nam ở tòa án dân tối cao, tòa án dân cấp tỉnh chúng ta có những cái tòa chuyên trách, tòa hành chính, tòa dân sự, tòa lao động. Đây là những thiết chế có thể nói rằng đây là những cái gọi là những tòa chuyên trách mà trước đây nếu cách đây khoảng 30 năm chúng ta thấy rằng là gì nó không có bởi vì cái điều kiện kinh tế vào thời điểm đó thực sự là không cần thiết nhưng trong cái hoàn cả trong cái điều kiện hiện nay khi mà chúng ta xây dựng nền kinh tế thị trường thì nó đòi hỏi là cần phải đặt ra những cái cơ quan mới những cái thiết chế mới. À ví dụ như là trước đây cái lĩnh vực về công chứng là một lĩnh vực độc quyền của nhà nước nhưng mà do sự đòi hỏi của kinh tế mà dẫn tới nhà

12:42 nước là gì? Cho phép thành lập các văn phòng công chứng tư tồn tại một cách song song cùng với gì? Các phòng công chứng của nhà nước. Hay là cái mô hình về thừa phát lại. Thực ra các mô hình thừa phát lại ở Việt Nam nó không phải là một cái mô hình mới nhưng từ sau năm 1975 thì nó không được áp dụng. Nhưng đến cho đến hiện nay thì người ta chứng minh rằng là cái mô hình này nó sẽ mang lại rất là những cái hiệu quả. ạ. Và vì vậy nhà nước cho phép áp dụng thí điểm và cho đến hiện nay thì áp dụng ở rất nhiều những cái tỉnh thành khác nhau. Và cái điều này do đâu mà có? Đấy chính là do sự đòi hỏi của kinh tế mà thôi. Ví dụ khi chúng ta đến phòng công chứng để công chứng hợp đồng hay chúng ta đến phòng công chứng của nhà nước thì các anh chị rằng là cái giá trị của các văn bản công chứng này nó là như nhau. Vậy thì cái sự khác nhau ở đây là gì? Đấy chính là cái giá dịch vụ mà chúng ta phải trả mà thôi. À giá dịch vụ và đương

13:29 nhiên thì gì? anh có tiền thì anh đến các văn phòng công chứng tư. Còn nếu như anh theo đúng giá quy định của nhà nước thì anh có đến gì các phòng công chứng của nhà nước à của nhà nước. Và tất cả những điều này là do sự đòi hỏi của gì? Của kinh tế. Một cái vấn đề tiếp theo nữa là sự thay đổi của kinh tế nó tất yếu đến dẫn đến cái sự thay đổi của nhà nước. À ví dụ như là kinh tế nông nghiệp thì nó phù hợp với nhà nước phong kiến. Nhưng mà cái kinh tế thị trường thì nó rất là phù hợp với cái gì? Nhà nước tư sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa của chúng ta hiện nay cũng đang hướng tới để xây dựng một cái nền kinh tế thị trường. À vậy thì cái sự tác động của nhà nước đối với cơ sở kinh tế nó sẽ là như thế nào? À sự tác động của nhà nước đối với cơ sở kinh tế nó cũng sẽ thể hiện ở hai chiều hướng. Thứ nhất là sự tác động đó

14:16 sẽ mang tính chất tích cực thông qua các chính sách kinh tế phù hợp. Nhà nước đưa ra các chính sách kinh tế phù hợp thì nó sẽ thúc đẩy cái nền kinh tế đó phát triển một cách ổn định. Nhưng mà ngược lại nếu như nếu như chính sách của nhà Đức đưa ra mà không phù hợp thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế xã hội. Và điều này nó phản ánh rằng là gì? Đã không phản ánh được một cách chính xác về các quy luật của kinh tế. Ví dụ như người ta nói rằng là cái hạn chế nào lớn nhất ảnh hưởng đến cái hoạt động phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay. Người ta cho rằng là một trong những lý do đấy chính là tham nhũng. À hiện tượng tham nhũng, tệ nạn tham nhũng. Và điều này nó làm tới là gì? Chính sách pháp luật của nhà nước bị méo mó, bị chỉ trệ. nó kìm

15:01 hãm sự phát triển kinh tế xã hội và người ta cho rằng là sức khỏe của doanh nghiệp nó chính là phản ánh sức khỏe của nền kinh tế và cái thực trạng điều hành của chính phủ như thế nào. Có một cái thống kê cho rằng là gì? Doanh nghiệp làm ra một đồng thì họ phải chi phí bôi trơn đến 1,02 đồng. Vậy thì điều này nó có ảnh hưởng tới kinh tế hay không? Theo cái thống kê của tổ chức thế giới người ta rằng là Việt Nam đứng 100 số 119/175 nước có chỉ số nhận thức tham nhũng của tổ chức minh bạch. xét thứ 126 trong chỉ số kiểm soát tham nhũng của BB. Vì vậy có cái đánh giá cho rằng là Việt Nam là một đất nước rất là kỳ lạ, là một đất nước mà gì không chịu phát triển. À nhưng cũng biết là rằng cái nhận định này nó có chính xác hay không và người ta có thể chứng minh nó bằng cái con số

15:47 cụ thể. Hoặc một cái hạn chế nữa mà nó có thể ngăn cản tới cái sự phát triển của nền kinh tế đấy chính là vấn đề về thủ tục hành chính. Ví dụ ờ Ngân hàng Thế Giới đưa ra một cái thống kê rằng là gì? Cái thời gian để hoàn tất thủ tục nhập khẩu ở Việt Nam trung bình là 21 ngày và nó gấp nhiều lần so với những quốc gia mà gần chúng ta. Ví dụ như ở Singapore chỉ có 4 ngày, Malaysia chỉ có 8 ngày và ở Thái Lan là 13 ngày. Vậy thì cái việc mà thủ tục hành chính nó nhiêu khê nó dài như thế nó có ảnh hưởng tới cái hoạt động hiệu quả phát triển kinh tế hay không? Hoặc một ví dụ khác người ta nói rằng ở Brazilin vào năm 1981 để có được giấy phép xuất khẩu thì cần phải có 1470 thủ tục. liên quan. Vậy thì trong trường hợp này rõ ràng rằng là với cái thủ tục nhiêu khê như thế thì người dân không thể nào

16:34 mà sản xuất kinh doanh được. Vì vậy có quan điểm cho rằng là ở những cái nước mà thủ tục hành chính nhiêu khê phiền hà thì cái nền kinh tế nó chỉ phát triển vào ban đêm khi mà chính phủ đã đi ngủ hết mà thôi. Àạ. Khi đánh giá về cái vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế thì ngân hàng thế giới đã đưa ra nhận định rằng là gì? không thể có một sự phát triển kinh tế xã hội bền vững nếu như không có một nhà nước hoạt động có hiệu quả. Và cái mà người ta cần ở đây là một nhà nước có hiệu quả chứ không phải là một nhà nước tối thiểu. Như vậy muốn có một nền kinh tế phát triển thì chính sách của nhà nước phải rất là gì? Rất là phù hợp và nó phải phản ánh được gì? Thực trạng kinh tế xã hội. Một chính sách đưa ra không phù hợp nó sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến nền kinh tế. Ví dụ ở

17:19 Việt Nam theo quy hoạch từ năm hai từ nay đến năm 2020 Việt Nam có khoảng 10 sân bay quốc tế. Vậy thì với 10 sân bay quốc tế đó thì cái hiệu quả người ta khai thác là như thế nào? Gần đây nhất người ta đưa ra cái thống kê rằng là gì? Ví dụ như ở Cần Thơ chúng ta có một cái sân bay. Cái sân bay này được đầu tư 3000 tỷ đồng và nó khánh thành vào năm 2011. Và đến thời điểm tháng 7 năm 2012 người ta thống kê rằng chưa có một chuyến bay thương mại quốc tế nào được thực hiện. Và cái sân bay này chủ yếu để phục vụ cho cái việc mà đưa cô dâu từ Đài Loan, từ Hàn Quốc, từ Trung Quốc về Việt Nam thăm gia đình. Như vậy với cái tần suất khai thác như thế thì cái khả năng thu hồi vốn là rất lâu. Hoặc ở Lâm Đồng chúng ta có một cái sân bay đó là sân bay Liên Khương. Sân bay này đầu tư

18:06 gần 1000 tỷ đồng và người ta cũng đánh giá rằng là với số lượng hành khách và tần suất khai thác sân bay như hiện nay thì phải mất 30 năm sau chúng ta mới có thể thu hồi vốn. Vậy thì vấn đề ở chỗ ở đây là khi mà nhà nước đưa ra một cái quy định, một cái chính sách nào đó thì phải căn cứ trên cái là thực trạng cái nền kinh tế đó có cần phải như thế hay không. Ở đều này không có nghĩa rằng là ở tỉnh A có sân bay thì ở tỉnh B cũng phải có sân bay. Vấn đề là ở tỉnh B xây sân bay thì ai về đó để đi sân bay để đi máy bay. Ví dụ ở Cần Thơ chúng ta có máy bay, có sân bay. Vậy thì nếu như tỉnh Hậu Giang cũng yêu cầu đề xuất rằng là tỉnh tôi cũng phải có sân bay, cũng phải xây dựng sân bay. Vậy thì vấn đề ở chỗ người dân ở đâu sẽ đến Hậu Giang để đi máy bay. Và nếu chúng ta xây dựng sân

18:53 bay xong mà chúng ta khai thác không được ấy thì dẫn tới là nó thiệt hại cho cái nền kinh tế, nó thiệt hại ngay chính bản thân những cái nhà đầu tư vào đó. Vạ thìế là cái mối liên hệ thứ hai giữa nhà nước và cơ sở kinh tế. Một cái mối liên hệ thứ ba mà chúng ta cũng cần phải xem xét đó là mối liên hệ giữa nhà nước với các thiết chế khác của hệ thống chính trị hay nói cách khác là mối liên hệ giữa nhà nước với các tổ chức khác trong xã hội có giai cấp à có nhà nước. Vậy thì hệ thống chính trị ví dụ như hệ thống chính trị ở Việt Nam nó bao gồm rất là nhiều những thiết chế khác nhau đó chính là các tổ chức chính trị. Thứ hai là các tổ chức chính trị xã hội mà Việt Nam đấy chính là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên. Cá thứ ba đấy chính là Nhà nước. Như vậy nhà nước cũng chỉ là một thiết chế tham

19:38 gia vào hệ thống chính trị đó mà thôi. Vậy thì với tư cách là một bộ phận hợp thành cái hệ thống chính trị đó, mối quan hệ giữa nhà nước với các bộ phận còn lại nó như thế nào? À vậy thì thứ nhất là cái sự tác động của nhà nước đối với các thiết chế tác động đối với Đảng Cộng sản Việt Nam. Ví dụ như thế à với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên. Vậy thì cái mối cái sự tác động này nó thể ở chỗ là thứ nhất ấy là nhà nước sẽ có cái vai trò đối với sự hình thành hoạt động của các thiết chế. Nhà các tổ chức khác muốn thành lập hoạt động đều phải có sự cho phép của nhà nước bằng quy định của pháp luật. Trong quá trình thành lập hoạt động đều trên cơ sở quy định của pháp luật và hoạt động trong cái khuôn khổ quy định của pháp luật đặt ra. Và trong xã hội thì nhà nước là chủ thể quan trọng để vận

20:23 hành hệ thống chính trị. bằng cái quyền lực của mình, bằng cái hệ thống pháp luật của mình, nhà nước sẽ tác động tới các thiết chế khác cả về thành lập, cả về quá trình hoạt động, thậm chí cả về mục tiêu, về tiêu chí hoạt động nữa. Và vì vậy khi nói tới nhà nước trong hệ thống chính trị, người ta xác định rằng nhà nước giữ vị trí trung tâm. Vậy thì câu hỏi đặt ra là tại sao nhà nước lại giữ vị trí trung tâm trong hệ thống chính trị? Điều này chúng ta có thể lý giải ở rất nhiều những góc độ khác nhau. Nhưng một trong những lý do để chúng ta có thể giải thích rằng nhà nước giữ vị trí trung tâm là nó xuất phát từ chính những ưu thế mà chỉ có nhà nước mới có. Đó là gì? Chỉ có nhà nước mới có quyền lực công cộng đặc biệt. Chỉ có nhà nước mới có quyền thuế để tạo ra cái nguồn của cải vật chất to lớn của mình. và

21:09 cũng chỉ có nhà nước mới có quyền đặt ra pháp luật với tư cách là những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung để áp đặt vào đời sống xã hội và buộc các chủ thể khác phải tuân theo vân vân. Và vừng lý do đó người ta khẳng định rằng nhà nước giữ vị trí trung tâm chi phối tới các thiết chế khác trong hệ thống chính trị. Mặc dù là các thiết chế khác chịu sự chi phối của nhà nước như vậy nhưng điều đó không có nghĩa là cái sự tác động này là một chiều mà nó vẫn có cái sự tác động trở lại. Hay nói cách khác là hoạt động của các thiết chế chính trị nó hướng đến nhà nước và tham gia vào các công việc của nhà nước. Và cái sự tham gia này có thể hiện ở hai góc độ. Thứ nhất là các thiết chế này nó hỗ trợ cho hoạt động của nhà nước và nó cũng có thể giữ vai trò là phản biện phê phán lại những cái

21:55 chính sách của nhà nước đưa ra. Ví dụ khi một đường lối chính sách của nhà nước được ban hành thì thông qua các tổ chức thành viên của mình, các tổ chức xã hội, đoàn thanh niên, hội liên hiệp phụ nữ, hội cựu chiến binh vân vân sẽ tiến hành tuyên truyền phổ biến những đường lối chính sách đó của mình cho các thành viên của tổ chức mình để từ đó họ nắm, họ hiểu và họ tự nguyện thực hiện. Và từ đó thì chính sách của nhà nước sẽ được gì? Thực hiện một cách có hiệu quả. Và đối với những chính sách pháp luật nào mà nó có liên quan tới những vấn đề hệ trọng của quốc gia ví dụ như là hiến pháp chẳng hạn nào đó thì nhà nước phải đưa ra để lấy ý kiến của người dân và các tầng lớp nhân dân các tổ chức xã hội thông qua các tổ chức mà mình tham gia mà mình là thành viên ví dụ như Đoàn

22:41 thanh niên hội liên hiệp phụ nữ họ sẽ đóng góp ý kiến cho nhà nước họ có thể đồng ý với quy định này của nhà nước nhưng họ cũng có thể là phản biện lại những chính sách mà nhà nước đưa ra để đảm bảo rằng những chính sách sách mà nhà Đức đưa ra nó phải phù hợp, nó có thể đáp ứng không phải là tuyệt đối nhưng một phần nào đó nó phải phù hợp với cái nhu cầu điều chỉnh của xã hội mà nhờ đó những chính sách này nó có thể sống được khi mà nó gì có giá trị thi hành. Ví dụ trong cái dự thảo dự thảo luật dân số người ta đưa ra một cái quy định như thế này. Gia đình sinh toàn con gái thì sẽ được nhà nước hỗ trợ. Vậy thì trong xã hội người dân có đồng tình hay không? À nếu tôi sinh hai con gái, tôi sẽ được nhà nước hỗ trợ. Hỗ trợ là gì? Khi tôi sinh con, tôi sẽ được nhận một khoản tiền. Khi con tôi đi học, con tôi

23:27 sẽ được miễn giảng học phí. Khi con tôi thi đại học, nó sẽ được cộng điểm. Và khi tôi về già, nếu tôi không có bảo hiểm xã hội, nhà nước sẽ hỗ trợ cho tôi. Và điều này người ta giải thích rằng là gì? Là để nhằm tránh cái việc là lựa chọn giới tính thai nhi. Bởi vì ở Việt Nam hiện nay là đã có sự mất cân đối về tỉ lệ giới tính. Ví dụ 100 bé gái thì nó gì có tới 120 bé trai. Ví dụ như thế. Như vậy là tỉ lệ sinh là nó gì? Nó mất cân đối. Vậy thì bây giờ nếu mà ai cũng đẻ con trai thì dẫn tới là mấy chục năm nữa thì con trai Việt Nam sẽ lấy vợ ở đâu? Vạ một vấn đề nữa là người Việt Nam chúng ta vẫn có quan niệm rằng là thập nam thì viết hữu mà thập nữ thì viết vô. 10 có một con trai vẫn là có và có 10 con gái

24:13 thì vẫn là không. Và vì vậy người ta quan niệm rằng là về già á là phải nương tựa vào con trai, phải có con trai vân vân. Bây giờ nếu con gái, con gái là con của người ta mà thế thì bây giờ khi mình về già thì mình nương tựa vào đâu đây? Vậy thì nhà nước đưa ra cái quy định này để nhằm ổn định cái tâm lý cho người dân rằng là yên tâm có sinh con gái thì sau này nhà nước sẽ hỗ trợ. À vì thế không cần phải lựa chọn giới tính thai nhi. Nhưng mà ngược lại thì những người sinh toàn con trai thì họ lại không đồng ý. Họ cho rằng như vậy thì có cái sự phân biệt đối xử hay không? có cái sự bất bình đẳng hay không? Tôi sinh toàn con trai nhưng mà gia đình tôi khó khăn, con tôi đi học thì không được hỗ trợ. Tôi về già, con tôi nghèo, tôi cũng nghèo nhưng tôi không được hỗ trợ của nhà nước. Vậy thì điều này nó dẫn tới cái sự bất bình đẳng trong xã hội hay không? Cái sự phân

24:58 biệt về giới tính hay không vân vân. Vậy thì nhà nước đưa ra và các tầng lớp nhân dân, các tổ chức sẽ đóng góp ý kiến để xem rằng là chính sách nào thì nó là phù hợp. hoặc một cái quy định khác cũng trong cái dự thảo này đó là cấm tự do phá thai trên 12 tầng tuổi. Cái quy định này nó không chỉ liên quan đến pháp luật mà nó còn liên quan đến vấn đề đạo đức của con người. Đương nhiên đạo đức là cái quan niệm của con người. Mỗi con người khác nhau là quan niệm về đạo đức khác nhau. Vậy thì đối với những cái thai nhi mà dưới 12 tuần tuổi á thì người ta cho tự do phá thai. Thế thì cấm tự do phá thai trên 12 tuần tuổi. Vậy thì có nghĩa rằng là người dân sẽ không cái người phụ nữ họ không có quyền lựa chọn là bỏ thai nhi theo ý muốn của họ. Và người ta cho rằng là đối với thai nhi

25:44 trên 12 tuần tuổi ấ thì nó đã có đầy đủ hình hải của một con người và nếu như bỏ đứa trẻ đó đi thì giống như là một hành vi giết người. Có quan điểm cho như thế. Và như vậy nó vi phạm cái vấn đề về đạo đức của con người. Nhưng cái vấn đề sinh nó cũng thực ra nó cũng là một cái quyền. Nó cũng là một cái quyền nữa. Nếu như tôi có thai ngoài ý muốn vì một lý do nào đó mà tôi không có khả năng để sinh con ra và nếu sinh con ra mà không nuôi nó đến nơi đến chỗ đầy đủ được thì thực sự cái điều đó có tốt cho đứa trẻ hay không. Đấy là một vấn đề đặt ra. Và trong cái dự thảo này cũng quy định rằng là không phải là trong mọi trường hợp đều cấm mà vẫn có thể là cho phép. Nhưng trong một số những trường hợp ví dụ là cái thai nhi đó là sản phẩm của hoặc của có một cái hành vi ví dụ như là loạn luân chẳng hạn hoặc là cái thai nhi đó đã bị khuyết

26:31 tật và một cái trường hợp nữa là người ta cho phép rằng là có thể bỏ thai nhi nếu như nó là sản phẩm của một cái hành vi ví dụ như là bị hiếp dâm chẳng hạn ví dụ người tâm thần nhưng đồng thời người ta cũng đưa ra một cái yêu cầu rằng là cho người tâm thần phá thai trên 12 tuần tuổi nhưng muốn phá thai được thì phải chứng minh rằng mình bị hiếp dâm Nhưng mà rõ ràng điều này là không thể bởi vì họ đã bị tâm thần rồi, họ không có khả năng nhận thức mà bây giờ buộc họ phải chứng minh rằng là tôi bị hiếp và dẫn tới có thai thì đây là một điều có thể nói rằng là nó không có tính khả thi. À nó không có tính khả thi về mặt thực tế. Vậy thì vấn đề ở đây là khi chúng ta nhà nước ban hành ra một chính sách, nhà nước sẽ cho phép các chủ thể có liên quan họ được phép tham gia vào, họ đóng góp ý kiến để thấy rằng là quy định đó nó có phù hợp hay không phù hợp.

27:18 Và điều này nó thể hiện cái vai trò rất lớn của các tổ chức khác, của các thiết chế khác trong xã hội đối với nhà nước. Một cái mối quan hệ cuối cùng mà chúng ta cần phải xem xét đó là mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật. Có quan điểm cho rằng nhà nước và pháp luật nó chính là hai em song sinh. Nhà nước ra đời bao giờ cũng kèm theo cái công cụ để quản lý đấy chính là pháp luật. Và pháp luật cũng chỉ ra đời khi và chỉ khi có nhà nước mà thôi. Vậy thì giữa hai cái hiện tượng này, chúng có mối quan hệ với nhau như thế nào? Nhà nước và pháp luật đều là hai yếu tố thuộc về kiến trúc thượng tầng và vì vậy chúng sẽ có sự tác động qua lại đến nhau. Vậy thì sự tác động này thể hiện ở cái yếu tố thứ nhất là trong xã hội có nhà nước thì chỉ có nhà nước mới có quyền ban hành ra pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật mà thôi. Không có

28:03 chủ thể nào có quyền ban hành ra pháp luật ngoài nhà nước. Và thậm chí là không phải là cơ quan nhà nước nào cũng có quyền ban hành ra pháp luật mà chỉ có các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật mới có quyền đặt ra đặt ra các văn bản quy phạm pháp luật. Nhà nước ban hành ra pháp luật, nhà nước chỉ đạo luôn cái quá trình là xây dựng pháp luật. văn bản nào, lĩnh vực nào được xây dựng trong thời điểm này, trong thời điểm sau và cái sự tác động của nó giới hạn đến đâu. Rồi nhà nước tổ chức luôn cái quá trình thực hiện pháp luật. Thực hiện làm thế nào để cho pháp luật đi vào đời sống, làm thế nào để cho pháp luật thực hiện nó một cách có hiệu quả. Và một vấn đề thứ ba nữa đó là nhà nước phải đảm bảo cho pháp luật được thực hiện. Bởi vì nếu như pháp luật chỉ ban hành thôi mà không có cơ

28:49 chế để đảm bảo cho nó được thực hiện thì thực sự nó chỉ là vấn đề mang tính chất lý thuyết. lý thuyết. Vậy pháp luật nó chỉ đi vào đời sống được thông qua những cái hành vi của các chủ thể. Vậy thì nhà nước sẽ có những cách thức để đảm bảo rằng là pháp luật nó được vật chất hóa, nó được đi vào đời sống một cách có hiệu quả nhất. Vậy thì nhà nước là chủ thể có quyền bản đan đặt ra pháp luật, ban hành ra pháp luật. Vậy thì câu hỏi đặt ra là nhà nước có phải tuân thủ chính cái quy tắc mà mình đặt ra hay không? Tôi đặt ra pháp luật, vậy thì tôi có quyền vượt lên trên pháp luật. đứng ra ngoài pháp luật hay không? Hay tôi phải hoạt động chính trong cái khuân khổ mà tôi đã đặt ra và trên cơ sở gì? Pháp luật. Một cái nguyên tắc mà tất cả các nhà nước đều mong muốn

29:35 hướng tới đó là gì? Đối với công dân được phép làm tất cả những gì mà luật không cấm. Chúng ta là công dân. Chúng ta mở luật ra điều gì luật không cấm thì chúng ta có thể làm hết. Nhưng mà ngược lại đối với các cơ quan nhà nước thì sao? chỉ được phép làm những gì mà luật cho phép mà thôi. Mở luật ra điều gì cho phép thì có quyền thực hiện. Vậy thì một câu hỏi đặt ra, nếu luật không cho phép nhưng luật không cấm nhưng mà thực tế khi áp dụng cái biện pháp đó thì nó mang lại cái hiệu quả. Vậy thì các cơ quan nhà nước có quyền áp dụng hay không? Có quyền thực hiện hay không? À ví dụ như trước đây người ta có một cái cơ có một cái tình huống rằng là gì? ở thành phố Thanh Hóa. Trên địa bàn thành phố Thanh Hóa nó xảy ra rất là nhiều cái tệ nạn đua xe trái phép. Vậy thì để ngăn cản

30:23 cái tệ nạn này ấ thì công an thành phố Thanh Hóa người ta mới nghĩ ra một cách đó là người ta sử dụng những cái lưới đánh cá người ta chập lại thành nhiều lớp khác nhau và người ta mang ra người ta răng ở những cái khu vực mà có tệ nạn đua xe và khi mà đua xe mà anh vướng phải cái lưới đó thì đương nhiên là gì? dừng lại và nhờ đó nó kéo giảm được cái tệ nạn đua xe trên địa bàn thành phố Thanh Hóa. Nhưng vấn đề ở chỗ là quy định của pháp luật không có một cái điều nào cho phép rằng là được áp dụng lưới đánh cá để ngăn chặn đua xe. Vậy thì một trong những cái quy định, một cái đặc điểm của nhà nước pháp quyền đó là nhà nước phải tuân thủ pháp luật. Không chỉ công dân mà chính bản thân nhà nước cũng phải tuân thủ pháp luật. Và hơn nữa là nhà nước ban hành gia pháp luật nó thể hiện ý chí của nhà nước nhưng trong một giới hạn nào đó nó cũng phải phản ánh ý

31:08 chí của xã hội nữa. Và vì vậy sự tuân thủ pháp luật không chỉ về phía nhà nước mà nó còn là sự tuân thủ phía các chủ thể khác trong xã hội. Như vậy đến đây cô đã giới thiệu xong với các em là một số những cái mối liên hệ cơ bản của nhà nước trong xã hội. Và những cái mối liên hệ này nó thể hiện được cái bản chất, cái vị trí, cái vai trò của nhà nước. À và thông qua những cái mối liên hệ này, chúng ta có thể hiểu một cách sâu sắc hơn về nhà nước và cũng như là vấn đề về bản chất nhà nước. Trong cái phần của cái bài học thứ hai này, nó còn một cái phần nữa về bản chất của các kiểu nhà nước trong lịch sử. Chúng ta có bao nhiêu kiểu nhà nước thì chúng ta cũng sẽ có bấy nhiêu cái vấn đề về bản chất nhà nước. từ nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản đến nhà nước xã hội chủ nghĩa. Phần này thì yêu cầu là

31:54 về nhà các em đọc giáo trình và tự nghiên cứu. Như vậy đến đây thì cái tiết học thứ năm của cái bài học này à sẽ dừng lại ở đây. Cảm ơn các em. [Vỗ tay] H

Share

YouTube Video Summaries